THỜI GIAN

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hoạt động của thư viện

    May_tinh_007.jpg May_tinh_005.jpg May_tinh_004.jpg May_tinh_001.jpg IMG_1723.jpg IMG_1626.jpg IMG_1719.jpg IMG_1619.jpg IMG_1625.jpg IMG_1720.jpg IMG_1722.jpg Hsinh_untitled1.bmp Hsinh_untitled.bmp Untitled_124.bmp

    Hoạt dông của nhà trường

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của Trường Tiểu Học Nam Sơn - Sóc Sơn - Hà Nội

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Bài viết >

    SKKN MÔM TẬP LÀM VĂN LỚP 5

    PHẦN 1 :MỞ ĐẦU

    1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI  :

    Trong chương trình tiểu học, tập làm văn là một phân môn tương đối khó dạy. Đặc biệt là dạy tập làm văn lớp 5, thể loại văn tả người  đã làm cho cả giáo viên và học sinh lúng túng khi tiếp cận thể loại văn này. trong thực tế hiện nay, việc dạy phân môn tập làm văn cũng có rất nhiều hạn chế và chưa có kết quả như mong muốn. Nhiều phụ huynh cho rằng các con hiện nay thường ngại viết văn, chưa có cảm xúc khi viết văn, chưa có phương pháp viết văn nên họ cho rằng việc dạy văn ngày nay ở bậc tiểu học không có hiệu quả bằng ngày xưa hồi chưa cải cách giáo dục. Nguyên nhân chính là do đa số giáo viên chưa định hình được phương pháp giảng dạy cũng như trình tự tiến hành một bài dạy tập làm văn như thế nào cho phù hợp với mục tiêu và nội dung bài học đặt ra, đồng thời chưa khơi dạy ở học sinh cảm xúc cũng như niềm đam mê viết văn. Mặt khác học sinh tiểu học là đối tượng mà năng lực tư duy còn hạn chế, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ của các em chưa cao . Trong một tiết học thời gian là 40 phút là tối đa mà lượng kiến thức phải cung cấp quá nhiều nên giáo viên chỉ hay quan tâm đến đối tượng học sinh khá giỏi để tiết dạy thành công. Bên cạnh đó việc thay đổi nội dung chương trình sách giáo khoa  khiến cho giáo viên còn lúng túng trong việc nắm bắt nội dung cũng như  phương pháp giảng dạy phân môn này  từ đó dẫn đến kết quả làm văn của học sinh chưa cao.

           Để khắc phục tình trạng trên theo tôi thiết nghĩ mỗi giáo viên chúng ta phải luôn có ý thức suy nghĩ để tìm ra phương pháp dạy tốt nhất, đạt ý đồ giáo dục cao nhất. Chính vì vậy tôi xin mạnh dạn chọn đề tài “Nâng cao chất lượng dạy học tập làm văn thể loại văn Tả người cho học sinh lớp 5 ”  

     

    2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :

    -Tìm hiểu những nội dung và phương pháp giảng dạy tập làm văn trong chương trình lớp 5 nói chung và thể loại văn tả người nói riêng.

    -Tìm hiểu thực trạng dạy và học tập làm văn thể loại văn tả người ở lớp 5.

    -Tìm hiểu những khó khăn vướng mắc của giáo viên khi dạy phân môn tập làm văn.

    -Đưa ra những biện pháp, những đề xuất nhằm nâng cao chất lượng dạy và học phân môn tập làm văn thể loại văn tả người .

    - Nâng cao hiệu quả của việc dạy tập làm văn ở tiểu học nói chung và thể loại văn tả người ở lớp 5 nói riêng.

    - Bồi dưỡng vun đắp tình yêu tiếng Việt, biết giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa .

    3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU :

    -Tìm hiểu về mục đích yêu cầu của việc dạy tập làm văn ở tiểu học.

    -Tìm hiểu nội dung, phương pháp dạy và học tập làm văn tả người.

    - Điều tra thực trạng dạy và học tập làm văn tả người ở trường tiểu học .

    -Thực nghiệm, đề ra các biện pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học phân môn tập làm văn .

    -Thiết kế bài giảng khi dạy văn tả người.

    -Thực hiện bài giảng, so sánh đối chiếu rút ra kết luận

    4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :

    4.1. Nghiên cứu tài liệu:

    Đọc sách, nghiên cứư các tài liệu  có liên quan đến nội dung đề tài Dạy và học tập làm văn Tả người  cho học sinh tiểu học .

    Từ những kiến thức quý báu, những kinh nghiệm sống động của các tác giả viết sách đã giúp tôi học được nhiều nội dung kiến thức tuyệt với rất có ích cho công tác giảng dạy.

    4.2 Phương pháp điều tra :

    -Điều tra tình hình dạy tập làm văn tả người ở tiểu học

    -Dự giờ đồng nghiệp

    -Đàm thoại trực tiếp với giáo viên

    -Ra đề kiểm tra chất lượng học sinh.

    -Tổ chức dạy thực nghiệm 2 tiết rồi đối chứng chất lượng kiểm tra ở hai lớp ( trình độ ngang nhau )

    5. PHẠM VI -  ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

    Thời gian thực hiện đề tài : 1 năm

    - Đối tượng nghiên cứu : Dạy và học tập làm văn -thể loại văn tả người ở khối lớp 5

    -Thực hiện nghiên cứu và áp dụng trên đối tượng học sinh lớp 5A và học sinh khối 5 của trường Tiểu học  –Hà Nội   

     

    PHẦN 2: NỘI DUNG

    1.CƠ SỞ LÝ LUẬN :

    Trong chương trình tiểu học, tập làm văn là một phân môn có vị trí rất quan trọng. Nó góp phần rèn luyện cho học sinh năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện cho các em giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày và học tốt các môn học khác .Nếu như các phân môn  khác của môn tiếng việt  cung cấp cho các em hệ thống các kiến thức kỹ năng thì phân môn tập làm văn tạo điều kiện cho các em thể hiện các kiến thức kỹ năng  và rèn luyện các kỹ năng đó một cách linh hoạt thực tế và có hệ thống hơn.Chính những văn bản nói, viết của các em có được từ phân môn tập làm văn theo các nghi thức lời nói, thuyết trình…đã thể hiện những hiểu biết thực tế, những kỹ năng sử dụng tiếng việt mà các em đã được học ở phân môn tập làm văn đặc biệt là thể loại văn miêu tả mà các em được học nhiều nhất, nó giúp các em tái hiện lại cuộc sống của con người, phong cách thiên nhiên hiện lên như một bức tranh nhiều màu sắc. Nó giúp các em có tâm hồn văn học, có tình yêu quê hương đất nước và yêu cuộc sống con người. Dạy tập làm văn có một ý nghĩa to lớn vì nó có cả các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.

    1. 2.     CƠ SỞ THỰC TIỄN:

    Kiến thức tập làm văn ở tiểu học tập trung nhiều trong chương trình tập làm văn lớp 4 và 5. Đặc biệt là chương trình tập làm văn lớp 5 có rất nhiều thể loại khác nhau như : kể chuyện, tả cảnh, thuyết trình tranh luận, viết thư, lập chương trình hoạt động, tả đồ vật, tả con vật, tả cây cối.Trong đó thể loại văn Tả người là thể loại tương đối khó đối với học sinh. Qua nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy các bài làm văn của học sinh về tả người thường nghèo ý, câu văn thường ngắn ngủn, thiếu bộ phận, diễn đạt lủng củng, thiếu cảm xúc. Các bài viết thường rơi vào tình trạng liệt kê, kể mà không tả, khô cứng. Chính vì vậy giáo viên cần phải có nhiều sáng tạo cũng như sự nhạy bén, linh hoạt trong quá trình lên lớp.    

    3.THỰC TRẠNG :

    3.1 Giáo viên:

         - Hầu hết, khi dạy tập làm văn lớp 4,5 nói chung và thể loại văn tả người ở lớp 5  nói riêng, giáo viên chỉ có con đường duy nhất là hình thành hiểu biết về lí thuyết thể văn, các kỹ năng làm bài là qua phân tích bài văn mẫu. Thậm chí để đối phó với việc học sinh làm bài kém, để đảm bảo chất lượng bài kiểm tra, thi cử, nhiều giáo viên cho học sinh đọc thuộc một số bài mẫu để khi gặp một đầu bài tương tự, các em cứ thế chép ra. Vì vậy, dẫn đến tình trạng cả thầy và trò bị lệ thuộc vào “ mẫu”, không thoát khỏi “mẫu”. Nhìn chung, giáo viên chưa thực sự rèn cho học sinh các kỹ năng làm bài: kĩ năng quan sát, tưởng tượng, kĩ năng viết câu văn sinh động, gợi cảm, kỹ năng viết đoạn văn đảm bảo tính liên kết chặt chẽ về ý. Giữa các câu văn có sự liền mạch, có quan hệ về ý với nhau.

        - Chương trình và sách giáo khoa hiện tại, các đề bài tập làm văn miêu tả rất sát thực, phù hợp với học sinh các vùng miền (đề ra thuộc dạng mở) nhưng một số giáo viên chưa hướng được học sinh làm đề bài sát thực tế với đặc điểm vùng miền. Cách dạy như vậy vừa ảnh hưởng chất lượng học, vừa tạo khó khăn cho các em khi học lên lớp trên.

     

     3.2  Học sinh:

    -Khi học văn miêu tả các em thường chán, không muốn học, không biết làm bài, không biết cách dùng từ để diễn tả điều mình đã từng quan sát và cảm nhận được. Khi viết văn thường khô khan thiếu cảm xúc thật sự .

    Qua những kinh nghiệm nhiều năm liền là giáo viên dạy lớp 5 nên tôi có kế hoạch  để khắc phục tình trạng trên ngay từ đầu năm học .Tôi đã cho học sinh khảo sát chất lượng  về khả năng viết  văn sau đó phân loại học sinh theo khả năng viết của học sinh và đưa ra các biện pháp kế hoạch hoạt động ngay từ đầu năm học.

    Qua 2 đề văn của lớp 4 :

    Đề 1: Tả một đồ dùng học tập hoặc một đồ chơi mà em yêu thích .

    Đề 2 :Tả một loại cây ăn quả ( cây hoa, cây có bóng mát ) mà em yêu thích .

     Kết quả kiểm tra khảo sát đầu năm của khối 5 trường tôi như sau:

     

    Lớp

    SS

    Điểm 1-4

    Điểm 5-6

    Điểm 7-8

    Điểm 9-10

     

     

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    5A

    33

    1

    3%

    5

    15,2%

    17

    51,5%

    10

    30,3%

    5B

    35

    5

    14,3%

    15

    42,9%

    9

    25,7%

    6

    17,1%

    5C

    33

    4

    12,1%

    18

    54,6%

    8

    24,2%

    3

    9,1%

    5D

    33

    3

    9,1%

    17

    51,5%

    9

    27,3%

    4

    12,1%

    Cả khối :

    134

    13

    9,7%

    55

    41%

    43

    32,1%

    23

    17,2%

     

     Kết quả đã phán ánh khả năng viết văn của học sinh còn yếu. Tỉ lệ học sinh điểm yếu và trung bình khác cao. Phần lớn  học sinh hay mắc những lỗi sai về diễn đạt còn lủng củng, nghèo ý, ít sử dụng các biện pháp tu từ như so sánh nhân hoá, viết câu văn chưa hoàn chỉnh, nhiều đoạn văn kể tả lan man, chưa có câu mở đoạn hay kết đoạn. Nguyên nhân cơ bản là do học sinh chưa xác định được dạng bài, chưa lập dàn ý cho bài văn miêu tả.

    Đứng trước thực trạng đáng lo ngại trên, tôi đã cùng với các bạn đồng nghiệp trong tổ phân loại học sinh cũng như đề ra các biện pháp dạy học để khắc phục tình trạng  trên, đặc biệt là thể loại  văn tả người cho học sinh.

     

    4. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH VIẾT TỐT THỂ LOẠI VĂN TẢ NGƯỜI :

    4.1- CUNG CẤP CHO HỌC SINH  DÀN BÀI CHUNG VĂN TẢ NGƯỜI :

    - Bố cục bài văn tả người :  gồm 3 phần

    * Mở bài: Giới thiệu về người định tả .

    (ai? Làm gì? quen biết trong dịp nào? quan hệ giữa người đó với em? )

    * Thân bài:  Tả cụ thể đặc điểm nổi bật của người được miêu tả.

    - Tả hình dáng: đặc điểm nổi bật về tầm vóc, cách ăn mặc, khuôn mặt, mái tóc, cặp mắt, hàm răng, …

    - Tả tính tình, hoạt động Thông qua lời nói, cử chỉ, việc làm, thái độ đối xử với mọi người xung quanh để nói lên tính nết, tình cảm, đạo đức…. của người được tả.

        * Kết bài : - Nêu nhận xét, cảm nghĩ của em đối với người được miêu tả.  

    - Nêu những ấn tượng sâu đậm nhất của em về người đó, những ảnh hưởng của người đó với em.

    4.2 - CUNG CẤP, TRANG BỊ CHO HỌC SINH MỘT SỐ KĨ NĂNG CẦN THIẾT ĐỂ LÀM VĂN TẢ NGƯỜI :

    4.2.1- Kĩ năng phân tích đề,  tìm hiểu đề.

    Muốn làm văn hay, không lạc đề học sinh phải xác định được đúng yêu cầu đề  bài. Giáo viên có thể cho học sinh xác định yêu cầu đề bài qua cách gạch chân những từ quan trọng trong  đề bài  và  trả lời câu hỏi sau .

    • Đề bài thuộc thể loại gì?
    • Tả ai ?
    • Nội dung yêu cầu tả gì?
    • Trọng tâm tả cái gì?

    4.2.2- Kĩ năng tìm ý, lựa chọn ý và  lập dàn ý:

    Rèn cho học sinh kỹ năng lập dàn ý và có thói quen lập dàn ý trước khi viết văn. Giáo viên cần phân tích cho học sinh thấy rằng làm văn cũng giống như ta là một người thợ may may một cái áo. Muốn may đẹp phải có chất liệu đẹp cùng với  sự tài năng của người thợ may thiết kế tạo ra một sản phẩm đẹp và  hợp thời trang. Chính vì vậy bước lập dàn ý cũng giống như ta đang tạo ra một chất liệu tốt cho việc sáng tạo thành một bài văn hay. Nếu dàn ý tồi sẽ cho ra một bài văn tồi. Vì vậy học sinh phải hiểu việc lập dàn ý là vô cùng quan trọng khi viết văn. Giáo viên cần  tránh cho học sinh viết luôn bài văn mà chưa lập dàn ý.

    VD : Với đề bài : : Tả một người thân của em
    Giáo viên có thể gợi ý như sau để học sinh lập dàn ý :
    * Mở bài:
    Giới thiệu người quan tâm, lo lắng nhất cho em là ba (mẹ) hoặc người thân khác có thể giới thiệu trực tiếp hoặc gián tiếp, hoặc bắt đầu bằng một câu ca dao, một lời hát về cha mẹ.
    * Thân bài:
    +Tả ngoại hình:
    - Thoáng nhìn, ba (mẹ) trông như thế nào? Ba mẹ bao nhiêu tuổi?
    - Ba (mẹ) có dáng người ra sao? Cao, thấp hay tầm thước (vừa người)?
    - Ăn mặc như thế nào? (giản dị, lịch sự, cầu kỳ, …) thường mặc những bộ đồ nào? (khi ở nhà, khi làm việc,…)
    - Khuôn mặt ba(mẹ) đầy đặn, tròn, hình trái xoan, hình chữ điền, góc cạnh, phương phi, …, (có trang điểm hay không – đối với mẹ), vầng trán cao (thông minh) kết hợp tả với mái tóc dài (thướt tha, dài chấm vai, chấm lưng, buộc gọn gàng) hay ngắn (bồng bềnh, gọn gàng, trông rất nam tính)
    - Đôi mắt to hay không to, có đeo kính không, cặp chân mày cong, rậm, hay được chăm sóc kỹ, ánh mắt nhìn người khác như thế nào? (trìu mến, dịu dàng, quan tâm, nhìn thẳng vào người khác…)
    - Đôi môi như thế nào? Với nụ cười để lộ hàm răng ra sao? v.v
    - Điểm nổi bật nhất về ngoại hình của ba (mẹ) hoặc người thân được tả là gì? (nốt ruồi, chiếc răng khểnh, mái tóc dài, đôi mắt to, vóc dáng to lớn, v.v)
    +Tả hoạt động, tính tình: đưa ra nhận xét chung về tính tình rồi mới tả:
    - Ba (mẹ) hoặc người thân được tả ăn nói ra sao? cử chỉ như thế nào?
    - Những thói quen khi làm việc? Khi ở nhà?
    - Công việc chính là gì? Thời gian làm việc ra sao?
    - Lo cho gia đình như thế nào? Lo cho em ra sao?
    - Đối xử với mọi người như thế nào ? (hàng xóm, bạn bè, những người thân khác trong gia đình?)
    - Điều em thích nhất ở ba (mẹ) hoặc người thân?
    - Điều em chưa thích ? (nếu có)
    - Kỷ niệm đáng nhớ nhất của em đối với ba (mẹ) hoặc người thân được tả?
    * Kết bài:
    Cảm nghĩ của em về ba (mẹ) hoặc người thân đã tả, nêu những ước mơ, lời hứa bản thân nếu làm kết bài mở rộng.

    Từ cách gợi ý học sinh sẽ lập được một dàn ý hoàn chỉnh như sau :

    * Mở bài :

    Người em yêu quý nhất trong gia đình, ngoài cha mẹ của em chính là bà nội

    *Thân bài :

    -Tả hình dáng :

    + Năm nay bà đã ngoài 60.

    + Vóc người xương xương, cao chừng 1,55m.

    + Lưng thẳng, không bị còng như các bà cùng lứa tuổi.

    +Khuôn mặt thon nhỏ, hai má hóp, mắt đeo kính lão, mồm lúc nào cũng bỏm bẻm miếng trầu.

    + Hàm răng đen, đều đặn, chưa bị sứt mẻ cái nào.

    + Hay mặc bộ áo bà ba màu xanh nhạt.

    + Dáng đi nhanh nhẹn

    -Tả tính tình :

    + Hay trò chuyện với bà con hàng xóm.

    + Luôn tay hết việc này sang việc khác, không chịu ngồi yên một chỗ.

    +Xem ti vi không thích xem phim Tàu, ưa xem phim ViệtNam, thích xem thời sự trong nước và quốc tế.

    + Ham đọc báo, nhưng không thích đọc truyện.

    + Tối, hay kể chuyện cổ tích để ru cháu ngủ.

    + Hay đi chùa với các bà trong hội người cao tuổi .

    * Kết bài : Bà đi chùa một ngày mà cả nhà ai cũng cảm thấy thiếu vắng …

     4.2.3- Kĩ năng quan sát: Có trọng tâm, có phương pháp

    - Hướng dẫn học sinh quan sát có mục đích và sử dụng nhiều giác quan để quan sát như bằng mắt( thị giác) để nhận ra màu sắc, hình khối của sự vật, nhận ra đặc điểm chung và riêng của một con người . Quan sát bằng mắt để thấy được con người đó trong cuộc sống ở mọi lĩnh vực hoạt động. Quan sát bằng tai (thính giác ) để thấy được giọng nói, tiếng hát của  con người mình định tả . Quan sát bằng mũi để thấy được mùi vị của thức ăn khi mẹ nấu rất ngon, mùi hoa lan toả khắp vườn khi ông chăm sóc cây, ….Ngoài ra có thể hướng dẫn học sinh quan sát bằng những cảm nhận sâu sắc từ chính tâm hồn của mình 

    -Cần tạo cho các em có thói quen quan sát ở mọi nơi mọi lúc có thể và ghi chép những điều quan sát được một cách chọn lọc , ghi lại những đặc điểm mà mình cảm nhận sâu sắc nhất .

    - Khi quan sát cũng cần lưu ý quan sát theo trình tự tâm lý.

     Ví dụ : khi quan sát một con người ta thấy nét gì nổi bật thu hút bản thân thì ta quan sát trước .

    - Rèn cho học sinh có khả năng tái hiện các chi tiết đã quan sát thành lời văn sống động như thật.

    4.2.4- Kĩ năng sử dụng một số biện pháp nghệ thuật tu từ trong viết văn như : Nhân hoá, so sánh, đảo ngữ, sử  dụng từ láy, từ tượng hình, tượng thanh, động từ, tính từ có giá trị biểu đạt cao.

    - Giáo viên  cho học sinh tập so sánh bằng cách  thi tả đôi tay mẹ, mài tóc bà,  đôi mắt của bé, hàm răng của bạn, giọng hát cuả cô .

    VD :

    - Bạn Linh có  hàm răng trắng đều  như  hạt bắp .

    - Tiếng hát cô trong vắt như dòng suối mát cuốn hút chúng em.

    - Đôi mắt của Linh  long lanh như giọt sương mai.

     

    -Cô ấy hiền như cô Tấm trong truyện cổ tích

    -Cô có mái tóc dài mượt, thướt tha như dòng suối .

    -Nước da trắng như trứng gà bóc .

    -Mái tóc của bà trắng như cước .

    -Giọng cô nói êm dịu như lời mẹ ru .

    - Gv dùng những câu hỏi gợi ý cách diễn đạt thường được xen vào trong khi HS nói miệng . Nếu HS chưa sử dụng được biện pháp nghệ thuật thì GV có thể gợi ý để các em khác bổ sung , sửa lại cho bạn .

    Hoặc tôi có thể khuyến khích các em sử dụng tả hình dáng  bằng cách dùng nhiều từ tượng hình, động từ ,tính từ hoặc những từ  láy có tác dụng, gợi cảm cao.

    VD: -Bàn tay, bàn chân bé xinh xắn, mũm mĩm, nõn nà.

     -Trang có gương  mặt bầu bĩnh hợp với mái tóc được cắt ngắn, gọn gàng và  sạch sẽ.

    4.2.5- Rèn luyện cho học sinh thói quen viết văn  phải có  hồn, có cảm xúc, giáo dục cho học sinh tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống lành mạnh, tác phong chuẩn mực, tình yêu thương con người.

    4.3- CUNG CẤP  CHO HỌC SINH NHỮNG  ĐIỂM LƯU Ý, CẦN CHÚ Ý KHI LÀM VĂN TẢ NGƯỜI :

    Thứ nhất, giáo viên cần hướng  học sinh  phải quan sát người được tả thật kỹ. Không chỉ quan sát về ngoại hình, chúng ta cần phải lưu ý luôn những thói quen, cử chỉ, hành động và tìm hiểu một cách thật chi tiết về công việc, cách người đó đối xử với mọi người xung quanh.

    - Khi làm văn tả người: Cần tả kĩ  những nét nổi bật, riêng biệt của người đó mà khác với người khác, những nét gây ấn tượng mạnh nhất .(Về màu da, đôi mắt, mũi, miệng, mái tóc, dáng người, nét mặt..) Ví dụ: khi tả cô giáo cũ của mình, có bạn thấy cô đẹp nhất là mái tóc, có bạn lại thấy cô đẹp nhất là nụ cười v.v
    - Không tả liệt kê dài dòng, phân biệt rõ người được tả với người khác.

    - Khi tả tính tình: tả kĩ những nét thuộc về cá tính, vẻ riêng trong tính cách của người đó, những nét gây ấn tượng nhất cho em .

    - Khi tả hoạt động thì miêu tả việc làm là trọng tâm, chọn nét tả  phù hợp với nghề nghiệp người được tả.

    -Một điều quan trọng nữa là ta cần phải chọn từ ngữ thích hợp cho đối tượng miêu tả, tránh sử dụng những từ ngữ dành cho đối tượng này cho đối tượng kia. Ví dụ: ta không thể sử dụng từ "mũm mĩm" để tả khuôn mặt của một người lớn tuổi được, thay vào đó có thể là từ "phương phi", hay "đầy đặn",...
    - Nói tóm lại  giáo  viên cần  cung cấp cho học sinh  những điểm cần lưu ý khi làm văn  tả người, đòi hỏi phải trung thực và có sự lựa chọn xắp xếp hợp lí những đặc điểm chọn tả.

    4.4- BỒI DƯỠNG CHO HỌC SINH PHƯƠNG PHÁP LÀM VĂN TẢ NGƯỜI.

    Giáo viên cần cho học sinh  hiểu rằng văn tả người là phải nắm được đặc điểm của nhân vật để có thể tả ai thì giống với người đó. Điều đặt  ra ở đây là giáo viên phải  cho học sinh hiểu thế nào là đặc điểm, đặc điểm có thể nhìn thấy được không? có nắm bắt được không? làm sao để thể hiện được nó?

    4.4.1- Cho học sinh tìm hiểu về đặc điểm con người.

    - Để học sinh hiểu ai cũng có đặc điểm riêng.

    Giáo viên cho học sinh toạ đàm 1 buổi; tự giới thiệu mình và bạn mình về những sở thích, tình cảm, vui  buồn…..

    VD: Bạn Lan: Là người sôi nổi, luôn nhiệt tình

           Bạn Linh: Rất năng động, tháo vát  thích nghe nhạc ,ghét sự  giả dối

            Bạn Công Hoàn: Chầm tính,  hiền, ít nói, thích màu trắng

           Bạn Lâm Khánh: Tính tình cởi mở, nói là làm, thích bóng đá, hay giúp đỡ bạn bè …..

    -Nếu bạn nào nói đúng và hay các đặc điểm của bạn mình sẽ được thưởng. Cuối cùng giáo viên chốt lại. Ai cũng có đặc điểm riêng của mình, tức là các cá tính đó có thể thuộc về phẩm chất tư tưởng, cũng có thể là tính cách hoặc sở thích hay thói quen. Chính vì vậy khi ta giới thiệu là ta đã nắm được sự khác biệt của mỗi người đó, chính là đặc điểm. Vậy đặc điểm được nhận biết qua đâu? làm thế nào để nắm được đặc điểm? Muốn vậy ta phải để ý quan sát lời nói, vẻ mặt, cử chỉ của người đó qua sự việc từ đó tìm ra điểm khác với mọi người.

    4.4.2- Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm bắt được đặc điểm con người qua các phương diện sau:

    a- Miêu tả ngoại hình nhân vật: Tức là miêu tả hình dáng bên ngoài như cách ăn mặc, trang điểm, vóc dáng, nét mặt…

    Do vui buồn  yêu ghét, sự từng trải cũng như đặc điểm cá tính của nhân vật, thường biểu  lộ qua vẻ ngoài, nên việc miêu tả đúng sẽ làm nổi bật bộ mặt tinh thần của người đó. Chính vì vậy thành ngữ có câu:

    Trông  mặt mà bắt hình dong

    Con lợn có béo cỗ lòng mới ngon .

    Quen sợ dạ , lạ sợ áo quần.

    Ví dụ: Khi dạy bài Luyện tập tả người ( sách TV 5 /tập 1 /T 122) Giáo viên cho học sinh đọc bài Bà tôi của Mac xim Gor-ki để minh họa, tác giả đã lựa chọn những chi tiết tiêu biểu nhất, nổi bật nhất để tả hình dáng người bà. Đặc biệt là tả đôi mắt của bà :“Khi  bà tôi mỉm cười, hai con ngươi đen sẫm nở ra, long lanh dịu hiền khó tả. Đôi mắt ánh lên những tia sáng ấm áp, tươi vui. Mặc dù trên đôi má ngăm ngăm đã có nhiều nếp nhăn, khuôn mặt của bà tôi hình như  vẫn tươi trẻ ”.

    Chỉ bằng vài câu tả ngắn gọn nhưng có tác dụng rất lớn trong việc miêu tả thế giới nội tâm của người bà tác giả: tràn  đầy  tình yêu thương, giàu tình cảm và đầy sức sống.

    b- Miêu tả hành động nhân vật:

    Giáo viên cho học sinh thấy đặc điểm tính cách  của con người cũng thể hiện qua hành động bởi vậy người ta có câu : “xét người qua hành động thực tế”.

    Khi tả người cũng vậy, tư tưởng tính cách của nhân vật phải được thể hiện qua hành động.

    VD: Trong bài “Người thợ rèn” (SGK TV 5 /T1/ T123) của ÊMinĐôLa có đoạn miêu tả động tác lao động của người thợ rèn rất hay:

    “Bác đang rèn một lưỡi cầy, áo sơ mi phanh ra để lộ bộ ngực lực lưỡng mà mỗi hơi thở làm hằn lên những  chiếc sườn của cái lồng ngực như bằng sắt ấy. Bác ngửa người ra sau lấy đà rồi giáng búa xuống. Và cứ thế luôn luôn như thế không lúc nào ngừng, thân hình bác lức lư uyển chuyển dưới sức thúc đẩy mãnh liệt của cơ bắp…”

    Bằng cách tả hàng loạt các động tác khéo léo, sự hoạt động đều đặn, nhịp nhàng, thành thạo của bố con bác thợ rèn tác giả đã làm nên tính cách, hình ảnh đẹp của con người trong lao động.

    c- Miêu tả ngôn ngữ nhân vật:

    Học sinh cần hiểu ngôn ngữ  nhân vật chính là sự bộc lộ trực tiếp thế giới  nội tâm của nhân vật, có thể nói rõ tư tưởng tính cách của nhân vật. Người xưa có câu:

    “Chim  khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe”

    “Đất tốt trồng cây rườn rà

    Những người thanh lịch nói ra dịu dàng

    Đất xấu trồng cây khẳng khiu

    Những người thô tục nói điều phàm phu.”

    Do vậy muốn thể hiện đặc điểm nhân vật một cách chuẩn xác nhất thiết phải coi trọng việc miêu tả ngôn ngữ nhân vật.

    Giáo viên lấy VD: Minh hoạ cho học sinh thấy: đoạn đối thoại giữa Yết Kiêu và tên trướng giặc trong bài  Yết kiêu  để thể hiện rõ thái độ căm thù, hiên ngang mưu trí của Yết Kiêu và sự sợ hãi, hoảng hốt, nỗi thất vọng của tên tướng giặc.

    d- Miêu tả tâm lí nhân vật:

    Miêu tả  tâm lí của  nhân vật tốt sẽ có thể biểu lộ được diện mạo tinh thần của nhân vật.

    VD1: Trong bài tập đọc “Mình bận học”( TVNC4) chuyện Vô-Lô-Đi-a đang chuẩn bị bài thì cậu bạn đến rủ đi bắn chim. Qua 1 đoạn đối thoại thì Vô-lô-đi-a bắt đầu giao động trước sự rủ rê của bạn nhưng  có một đoạn miêu tả tâm lí như sau:

    “Nhưng chợt nghĩ đến bài chưa chuẩn bị xong…  …

    -Không , mai chúng ta sẽ đi từ sáng, còn hôm nay thì không !

    Sau đó Vô -lô- đi – a đóng sập cửa lại .”

    Phần miêu tả  tâm lí này đã phản ánh  ý thức trách nhiệm của cậu bé Vô-lô-đi-a vì chính sự ý thức này đã giúp cậu chiến thắng trước những cám dỗ của cuộc sống  VD2 : Trong bài tập đọc Hộp thư mật (TV5/2), GV có thể lấy nhân vật anh Hai Long làm nổi bật lên tình yêu quê hương đất nước, sẵn sàng vượt mọi khó khăn nguy hiểm của người chiến sĩ tình báo hoạt động trong lòng địch trước ngày miền Nam giải phóng.

    e- Làm nổi bật đặc điểm nhân vật qua tả hoàn cảnh  xung quang nhân vật đó: 

    Khung cảnh xung quanh là rất cần thiết trong văn tả người nó có vai trò tạo nên tính cách nhân vật. Đây là một nét tả độc đáo và rất có hồn khi miêu tả nhân vật mà chúng ta cần cung cấp cho học sinh .

    VD: Trong bài TĐ “Bà cụ bàn hàng nước chè” (TV5/ T2 – T 102) nhà văn Nguyễn Tuân đã rất thành công trong việc tả song song cây bàng và bà cụ ngồi dưới gốc bàng khiến cho người đọc cảm nhận được vẻ đẹp, lòng nhân đức của một bà cụ: “Không biết cây bàng này năm chục tuổi, bảy chục tuổi hay cả một trăm tuổi. Nhiều người uống nước ở đây những lúc quán vắng khách đã ngắm kĩ gốc bàng, rồi lại ngắm sang phía bà cụ bán hàng nước …” Đó là vẻ đẹp rất đôn hậu của  những người  phụ nữ ở nông thôn ViệtNam.

    g. Hướng dẫn học sinh các bước chuẩn bị làm văn tả người đó là:

    * Phải suy nghĩ nhiều

    - Suy nghĩ viết về ai?

    - Những việc gì có  ý nghĩa phản ánh đặc điểm nhân vật?

    * Phải xem xét nhiều:

    - Tái hiện lại hình ảnh nhân vật cần tả: từ lời nói đến hành động. Lật đi lật lại vấn đề để lựa chọn chi tiết tả cho hay.

    * Phải đọc nhiều:

    Viết xong bài cần đọc đi đọc lại xem xét người mình tả có đúng không, hình ảnh nhân vật cùng giọng điệu, dáng vẻ, cử chỉ có thực sự hoạt động trước mắt ta không, lời nói có vang vang  bên ta không .

    *Phải sửa nhiều: Cần gia công tỉ mỉ trong việc miêu tả ngôn ngữ động tác, dáng vẻ, nội tâm của nhân vật sao cho nhân vật có tính cách, có đặc điểm và trở nên sinh động trên trang viết.

    4.5.HƯỚNG DẪN HỌC SINH VỀ CÁCH SỬA LỖI KHI DÙNG TỪ  VÀ ĐẶT CÂU TRONG  DIỄN ĐẠT:

     Học sinh  tiểu học khi làm văn nói chung hay khi làm văn tả người nói riêng đều thường hay mắc lỗi sai khi dùng từ đặt câu. Phần lớn các thầy cô giáo khi chấm bài cho học sinh thường nhận xét chưa rõ ràng chưa cụ thể như: Dùng từ chưa chính xác, dùng từ chưa hay, dùng từ còn trùng lặp, dùng từ sai nghĩa ….Nhưng chưa mấy ai đã giảng cho HS hiểu thế nào là dùng từ hay và khi dùng không hay thì sửa cụ thể như thế nào ?

    Để khắc phục tình trạng này, Gv cần chấm bài thật kĩ và ghi chép lại những lỗi sai của HS, sau đó phân loại thành những lỗi sai phổ biến, biên soạn thành bài tập riêng cho các em luyện tập trong giờ trả bài. Đồng thời GV cần cung cấp hướng dẫn cho HS  như sau:

    4.5.1. Hướng dẫn HS cách dùng từ đúng :

    Muốn thế GV cần  cho HS hiểu: 

    * Từ là một đơn vị ngữ pháp nhỏ  nhất ,có ý nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định , được người nói người viết dùng để đặt câu .

    * Dùng từ đúng là dùng từ đúng về hai mặt ,đó là dùng từ đúng âm  và dùng từ đúng nghĩa 

    * Muốn HS dùng từ đúng về âm GV cần luyện cho HS cách phát âm chuẩn và viết đúng chính tả bằng cách cho HS nhìn cách nói đúng và nghe cách nói đúng  để làm chuẩn .

    VD : Khi tả tính tình của một người nhiều học sinh đã dùng như sau :

     

    Từ đúng âm

    Không đúng âm

    Trong trắng

    Chong chắng

    Cần mẫn

    Cầng mẫng

    Khoan dung

    Khoang dung

     

    Muốn rèn cho HS dùng từ đúng nghĩa GV cần hướng dẫn các em  tra từ điển các nghĩa của từ cho đúng và lựa chọn vào câu văn của mình cho phù hợp với văn cảnh và nghĩa trong câu. Nếu còn phân vân khi lựa chọn từ ngữ GV cần  cho HS  lấy các từ đồng nghĩa với chúng  rồi sau đó lựa chọn cho phù hợp.

    4.5.2. Hướng dẫn HS cách dùng từ hay :

    Để HS dùng từ hay GV cần cho HS hiểu  dùng từ hay là phải dùng từ  chính xác , dùng từ có hình tượng và dùng từ đúng văn cảnh, đúng phong cách .

    -Dùng từ chính xác : là cách dùng từ có lựa chọn để tìm ra cách đúng nhất, có giá trị nghệ thuật nhất phù hợp với từ cần diện đạt.

    VD1 : Câu : Cô ấy có dáng người lép kẹp .

    Để tả một cách chân thực nhưng lại thể hiện cái hay trong bài văn của mình. Tôi đã  hướng dẫn để HS tìm từ khác cùng nghĩa với từ lép kẹp để lựa chọn, bởi từ lép kẹp trong câu dùng không hay. Học sinh  tôi liền tìm:  khô đét, xương xẩu, hom hem,  thanh mảnh, gầy gầy ….

    Sau khi lựa chọn các em đã tìm được từ dùng để thay thế từ lép kẹp bằng  từ  thanh mảnh hoặc từ gầy gầy .

    Cô ấy có dáng người thanh mảnh .

    VD 2 : Câu : Bạn Lan là một bạn gái  rất xinh xẻo  

    HS tìm các từ khác thể hiện cái đẹp hay hơn như : trông dễ  mến, xinh xinh, xinh xắn, dễ coi, xinh tươi ….

    Sau khi lựa chọn HS đã tìm được từ phù hợp hay hơn để thay thế cho từ xinh xẻo:

    Bạn Lan là một bạn gái trông  rất dễ mến .

    Ngoài ra GV cần hướng dẫn HS lựa chọn từ ngữ sao cho đúng văn cảnh, đúng tình cảm trong bài văn  cần thể hiện .

    VD3 : Bố của  Nam  là  một liệt sĩ  đã  chết ngoài chiến trường miềnNam .

    GV lại hướng dẫn HS tìm các từ đồng nghĩa với từ chết như : Đã mất , hi sinh, qua đời, hai năm mươi, quy tiên …GV cần hướng  HS cần tìm từ để thay vào câu có tác dụng thể hiện sự kính trọng và biết ơn đối với bố của Nam.Nhờ vậy HS dễ dàng tìm ra được từ cần  thay thế từ  chết ở đây là từ  hi sinh .

    Bố của Namlà một liệt sĩ đã hi sinh anh dũng ở chiến trường miềnNam.

    4.5.3- Cung cấp cho học sinh vốn từ ngữ để tả  :

    Để học sinh làm được một  bài văn tả người hay, giáo viên cần trau dồi cho học sinh vốn từ ngữ phong phú bằng cách cho học sinh thi tìm các từ ngữ theo từng mảng chủ đề riêng để làm chất liệu cho viếc viết văn tả người. Sau đó chép thành một cuốn từ điền để sau nay sẽ lựa chọn cho thật đúng và hay vào bài tả của mình. Đồng thời giáo viên cần khuyến khích học sinh tìm thật nhiều từ ngữ ở mọi nơi, trên sách báo ….cho từ điển “Làm văn tả người” của mình thêm phong phú.

    a)- Tuổi tác:

    - Chừng 8 tuổi.

    - Mới sinh

    - Khoảng 25 đến 30 tuổi

    ……………………………

    b)- Tầm vóc:

    - Dáng người nhỏ nhắn                  - Dáng người cân đối thướt tha

    - Thân hình cao lớn                       - Lưng hơi còng

    - Dáng người phốp pháp               - Dáng người mập, oai vệ

      -Dáng người bệ vệ                         - Người thắt đáy lưng ong .

    c)- Mái tóc:

    - Tóc đen huyền                           - Tóc bạc phơ phơ

    - Tóc sương da mồi                      - Tóc tơ đen nhánh

    - Tóc lốm đốm bạc                       - Tóc trắng như cước

    - Tóc đen như gỗ mun                  - Tóc xoã ngang vai

    - Tóc lơ thơ vài sợi                       - Mái tóc thề

    d)- Khuôn mặt:

    Tròn, vuông chữ điền, trái xoan, xương xương, tươi tỉnh, xanh xao, buồn thiu, ỉu  xìu, hồng hào, bầu bĩnh, nhỏ nhắn, thông minh, lanh lợi, …..

    đ)- Cái mũi:  hếch, cao, tẹt, dọc dừa, thẳng…….

    e)- Đôi mắt:

    + Đôi mắt to (đen, sắc sảo, trũng sâu)

    + Đôi mắt lờ đờ        

    + Đôi mắt nhìn ngây thơ

    + Đôi mắt có nét nhìn thẳng, trung thực

    + Đôi mắt đã có dấu chân chim

    + Đôi mắt bồ câu

    + Đôi mắt lá dăm..

    g)- Đôi má: hồng hồng, mũn mĩm, lúm đồng tiền, đầy đặn, cao …

    h)- Thân hình:

    Thân hình tròn trịa (mảnh mai, mập ú, béo phệ, khoẻ mạnh …. )

    i)- Làn da :

    Làn da (trắng hồng, trắng như trứng gà bóc, đen sạm, màu bồ quân,xanh xao,  trắng  xanh, ngăm ngăm đen…....)

    k)- Tính cách - diện mạo:

    - Con người chững chạc                                - Con người thô lỗ

          - Con người cởi mở                                     - Con người kín đáo

          - Con người nghiêm khắc                             - Con người thô kệch

    - Con người quan cách                                  - Con người có duyên        

           -Con người chậm chạp                                 -Con người đằm thắm

    - Con người mới nhìn đã có thiện cảm          -Con người phong độ

    -Con người dịu dàng                                      -Con người chất phác, thật thà

    l) - Vẻ mặt :

    Vẻ mặt tươi tỉnh - vẻ mặt dễ thương - vẻ mặt quả quyết

    Vẻ mặt hiền từ phúc hậu - vẻ mặt xảo trá - vẻ mặt chất phác ….

    m)- Lời nói - giọng nói.

    Lời nói lịch sự  -   giọng nói nhẹ nhàng - giọng nói khàn khàn

    Lời nói dịu dàng  - giọng nói truyền cảm  - giọng nói lanh lảnh

    giọng nói trầm-  giọng nói oang oang  - giọng nói trầm ấm…

    4.5.4. Khơi dạy cho học sinh tình cảm yêu thương con người từ đó bộc lộ được  cảm xúc trong bài văn của mình :

     -GV cho học sinh thi tìm và học thuộc những câu thành ngữ, tục ngữ ca dao nói về tình cảm con người trong gia đình để trẻ cảm nhận được tình yêu thương của con người trong gia đình và trong xã hội, đồng thời để HS có ý thức trách nhiệm và  bổn phận của mình đối với những người thân trong gia đình cũng như với mọi người xung quanh  :

    “Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ
    Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha
    Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ
    Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha
    Tần tảo sớm hôm mẹ nuôi con khôn lớn
    Mang cả tấm thân gầy cha che chở đời con
    Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc
    Đừng để buồn lên mắt mẹ nghe không

    “ Thương trẻ trẻ đến nhà

    Kính già già để tuổi cho”

    “Anh em như thể  tay chân

    Rách lành đùm bọc, dở  hay đỡ đần”

    “Công cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa  mẹ như nước trong nguồn chảy ra..”

    “Con ơi muốn  nên thân người

    Lắng tai  nghe lấy những lời mẹ cha..”

    “Trai thì trung hiếu làm đầu

    Gái thì tiết hạnh  làm câu trau mình..”

    “ Thương người như thể thương thân”.

    “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”

    “Bầu ơi thương lấy bí cùng

    Tuy rừng khác giống nhưng chung một giàn”

    -GV cần nhấn mạnh cho HS biết, cảm xúc không chỉ bộc lộ ở phần kết bài mà còn cần thể hiện trong từng câu từng đoạn trong bài văn. GV cần gợi ý cho HS một cách cụ thể trong từng bài.

    VD : Với bài tả người bà của em . 

    GV có thể đặt câu hỏi : Sống với bà em thấy như thế nào ? ( Bà gần gũi, chăm sóc em chu đáo như một bà tiên hiền hậu , muốn mình làm một điều gì  cho bà đỡ vất vả .)

    - Được bà chăm chăm sóc hàng ngày , em có cảm nghĩ gì ? (Tình cảm thương yêu của bà đã giúp cho tôi thêm vững bước hơn trong cuộc đời )

    4.6. CÁC BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG TỪ NGỮ KHI VIẾT VĂN TẢ NGƯỜI :

    Do vốn từ của học sinh còn nghèo nàn, do vậy bài viết của các em thường  khô khan thiếu tính gợi tả, gợi cảm không hấp dẫn được người đọc người nghe. Chính vì vậy tôi đã thiết kế và sưu tầm  một hệ thống các bài tập rèn kỹ năng sử dụng từ ngữ khi tả người và giảng dạy vào các tiết hướng dẫn học buổi chiều  hoặc trong các tiết câu lạc bộ văn học do nhà trường tổ chức . 

    Dạng 1: Các  bài tập làm giàu vốn từ :

    Ví dụ 1: Tìm các từ láy từ ghép  tả đôi mắt của con người ( long lanh, dịu dàng, đen lay láy, bồ câu, hai mí, sinh động, linh hoạt, tinh anh, tinh nhanh, lờ đờ,lim dom….)

    Ví dụ 2 : Tìm các từ ngữ miêu tả mái tóc của con người

    ( đen nhánh, đen mượt, hoa dâm, muối tiêu, bạc phơ, mượt mà, xơ xác…

    Ví dụ 3 : Tìm từ ngữ miêu tả khuôn mặt của con người .

    (Trái xoan, vuông vức, thanh tú, vuông chữ điền, bánh đúc, phúc hậu, mặt choắt…)

    Ví dụ 4 : Tìm từ ngữ miêu tả làn da của con người ( Trắng trẻo. trắng hồng, hồng hào, mịn màng, nhẵn nhụi, xù xì, thô giáp, mát rượi, trắng nõn, trắng như trứng gà bóc…)

    Ví dụ 5 : Tìm từ ngữ miêu tả vóc dáng con người .( mập mạp, thư sinh, còm nhom, gầy đét, thanh tú, tầm thước, cao ráo, nho nhã ….)

    Ví dụ 6 : Tập đặt câu có hình ảnh so sánh khi tả người .

    Dạng 2 : Các bài tập sử dụng từ láy tính từ để điền vào chỗ trống :

    Ví dụ 1 : Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống để tạo thành một câu văn hay

    Đôi mắt bé sáng …………….

    Mái tóc mẹ……….chảy dài như dòng suối .

    Giọng bà trầm ấm ngân nga như …………………………

    Ví dụ 2 : Lựa chọn từ ngữ dưới đây điền vào chỗ trống  cho hoàn thiện đoạn văn sau: (bầu bĩnh, lưa thưa, trắng hồng, đáng yêu, mập mạp, hây hây như táo chín , yêu )

     : “ Bé Ngọc Anh nhà em rất …………….. Thân hình bé …………………...Khuôn mặt………, làn da…………..Hai má lúc nào cũng …………….khiến ai cũng yêu. Mái tóc bé …………….nhưng rất mượt. Ngọc Anh thường được mẹ gài cho chiếc cặp bướm trên tóc, trông rất ………”

    Dạng 3: Sắp xếp ý văn để tạo thành bài văn hoàn chỉnh :

    Ví dụ : Sau đây là các ý của một bài văn nhưng chưa được sắp xếp theo một trình tự hợp lý. Em hãy xếp lại và ghi số thứ tự vào chỗ trống :

    1. Bà ngoại em đã bảy mươi tuổi.
    2. Sáng nào bà cũng ra vườn chăm sóc cây.
    3. Khi bố mẹ đi làm, chúng em đi học thì bà lại dọn dẹp nhà cửa.
    4. Bà ngoại sống với gia đình em.
    5. Tóc bà trắng như cước.
    6. Bàn tay bà nhăn nheo, nổi những gân xanh.
    7. Mắt bà còn rất tinh, luôn ánh lên niềm vui.
    8. Trước khi đi ngủ, bà ôm em vào lòng và kể chuyện cổ tích cho em nghe.
    9. Em mong bà thật khoẻ mạnh để sống mãi với em.

    10. Răng bà đen nhưng nhức như hạt na.

    11. Lưng bà đã hơi còng.

    12. Bà em rất thích uống trà ướp hương nhài.

    13. Cả nhà em đều rất yêu quý bà.

    Trình tự hợp lý của các câu là :

    -         Mở bài :……………………………………………….

    -         Thân bài :

    + Ngoại hình :…………………………………………………….

    + Hoạt động, tính tình :………………………………………….

    -Kết bài :………………………………………………………….

    Dạng 4: Các bài tập luyện sử dụng từ láy tính từ, so sánh nhân hoá để diễn đạt hoặc thay thế các từ ngữ  khác :

    Ví dụ 1 : Điền vào chỗ trống các tính từ có mức độ và hình ảnh so sánh sau : (bàn tay người nghệ sĩ đang lướt trên các phím đàn, trắng muốt, mơ màng xa xăm, hợp và sang trọng, trái xoan, long lanh, thướt tha, thon nhỏ, càng đẹp hơn) Sau đó sắp xếp lại theo thứ tự hợp lí để tạo thành một đoạn văn hoàn chỉnh :

    1. Mẹ có dáng người “rất chuẩn” nên mẹ mặc gì tôi cũng thấy…………………….. (hợp và sang trọng)

    2. Mái tóc mẹ cắt ngắn, ôm lấy khuôn mặt……………………….( trái xoan)

    3. Nhưng bây giờ, công việc bận rộn nên mẹ cắt tóc ngắn cho năng động .

    4. Mẹ bảo: “Thời con gái, mẹ cũng có một mái tóc dài………………( thướt tha), mái tóc đó là nềm tự hào của mẹ.”

    5. Đối với tôi mẹ là người đẹp nhất trần gian này.

    6. Làn da mẹ tôi không trắng lắm và có những nốt tàn nhang.

    7. Bố bảo: “ Trông như thế mới duyên.”

    8. Có mẹ ở đâu là ở đó vui. Mẹ hay cười đùa làm cho tất cả mọi người cùng cười theo.

    9. Mỗi khi mẹ cười, ánh mắt……………(long lanh) và hàm răng ………………

    ( trắng muốt) làm khuôn mặt mẹ sáng bừng lên.

    10. Dưới ánh đèn, trông mẹ………………….( càng đẹp hơn), đôi môi hơi mím, trán nhíu lại một chút nhưng ánh mắt lại có vẻ………………( mơ màng xa xăm)

    11. Đôi bàn tay …………………..( thon nhỏ) của mẹ gõ trên bàn phím nhẹ và nhanh như …………………..( bàn tay người nghệ sĩ đang lướt trên các phím đàn )

    12. Mẹ tôi là một nhà báo nên hay làm việc rất khuya.

    13 . Tôi rất thích ngắm mẹ đang làm việc .

    Thứ tự các câu được sắp xếp hợp lí để tạo thành đoạn văn là :………………

    ( 5, 1, 6, 7, 2, 3, 4, 8, 9, 12, 11, 13, 10, 11)

    Ví dụ 2 : Thay thế các từ in nghiêng trong mỗi câu văn sau để tạo thành một câu văn gợi tả hơn :

    a)     Linh Anh có đôi mắt đen láy.(long lanh như hòn bi ve)

    b)    Những ngón tay nhỏ xíu khum khum của bé  gõ lên từng phím đàn .

    ( nhỏ nhắn xinh xinh)

    c)     Bé nở một nụ cười tươi thật đẹp.( rạng rỡ như hoa xuân)

    d)    Mẹ có làn da rất trắng .( trắng như trứng gà bóc.)

    4.7 Cung cấp vôn sống cho học sinh khi làm văn :  

    Bên cạnh việc  hình thành và phát triển ở HS năng lực sử dụng  từ ngữ khi viết văn giáo viên cần giúp HS có được những hiểu biết cơ bản về xã hội, văn hoá, văn học, lịch sử, đời sống nội tâm của con người. Đồng thời giáo viên cần bồi dưỡng năng lực tư duy và làm giàu xúc cảm thẩm mĩ và định hướng thị hiếu lành mạnh để hoàn thiện nhân cách của mình khi làm văn.

     

    4.8 TỔ CHỨC CÁC TRÒ CHƠI HỌC TẬP KHI DẠY TẬP LÀM VĂN  :

    Để tạo cho học sinh sự thoải mái và hứng thú khi học tập làm văn, sau mỗi tiết dạy tôi thường cho học sinh chơi các trò chơi vui và nhẹ nhàng để học sinh dễ dàng  tiếp thu kiến thức và đồng thời giúp học sinh nhớ lâu để vận dụng làm văn tốt hơn :

    -Trò chơi 1: Chiếc hộp kỳ diệu

    *Mục đích :

    -Cung cấp cho học sinh các ý , từ để học sinh có chất liệu để làm văn

    -Rèn khả năng quan sát, sáng tạo và phản xạ nhanh ở học sinh

    * Đồ dùng : Làm một chiếc hộp đủ màu sắc trong đó có ghi các câu hỏi của bài đang học.

    * Cách chơi : Hộp quà sẽ được truyền từ bạn này đến bạn khác. Khi có hiệu lệnh của giáo viên, học sinh nào đang cầm chiếc hộp sẽ phải mở chiếc hộp ra và bốc câu hỏi trả lời. Nếu bạn đó trả lời tốt sẽ được thưởng một đồ vật hoặc một tràng pháo tay của các bạn, nếu bạn nào trả lời sai hoặc không trả lời được sẽ bị phạt nhẹ nhàng do giáo viên quy định.

    Các câu hỏi có thể chuẩn bị theo từng đề văn có nội dung của bài học hôm đó

    Ví dụ 1 : Bài tả  hoạt động của một người đang làm việc mà em yêu thích

    GV chuẩn bị câu hỏi và viết ra một băng giấy như sau  :

    + Người đó làm gì ?

    +Trong khi hoạt động người đó có đặc điểm gì nổi bật ?

    + Cử chỉ người đó như thế nào ?

    + Hình dáng, động tác của người đó ra sao ?

    + Kết quả làm việc của người đó như thế nào ?

    Ví dụ 2: Tả một em bé đang tuổi tập nói tập đi .

    Giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi như sau  :

    + Dáng vẻ em bé thế nào ?

    +Những nét nào ở em bé làm em chú ý ?

    +Tóc em bé có nét gì ngộ nghĩnh?

    + Hai má em bé thế nào ?

    +Bé cười như thế nào ?

    + Bé tập nói như thế nào ?

    + Đôi mắt em


    Nhắn tin cho tác giả
    Dương Thị Vân @ 10:58 23/12/2014
    Số lượt xem: 617
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến