THỜI GIAN

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hoạt động của thư viện

    May_tinh_007.jpg May_tinh_005.jpg May_tinh_004.jpg May_tinh_001.jpg IMG_1723.jpg IMG_1626.jpg IMG_1719.jpg IMG_1619.jpg IMG_1625.jpg IMG_1720.jpg IMG_1722.jpg Hsinh_untitled1.bmp Hsinh_untitled.bmp Untitled_124.bmp

    Hoạt dông của nhà trường

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của Trường Tiểu Học Nam Sơn - Sóc Sơn - Hà Nội

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Bài viết >

    Sáng kiến kinh nghiệp môn Lịch Sử lớp 4

    PHẦN 1. MỞ ĐẦU

     

    1. 1.     LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

    Ở Tiểu học phân môn Lịch sử và Địa lý (LS- ĐL) thì kênh hình (KH) là một loại phương tiện trực quan quan trọng trong quá trình dạy học, cung cấp cho học sinh những kiến thức nội dung bài học. Hơn nữa, kênh hình sách giáo khoa (SGK) còn chứa đựng và có nhiệm vụ chuyền tải một lượng thông tin của giáo viên trong quá trình dạy học tới học sinh .Cho dù là loại kênh hình nào, chúng đều có đặc điểm chung là phản ánh đúng đối tượng nghiên cứu, phù hợp với nội dung trình bày ở kênh chữ trong sách giáo khoa, những thông tin đó phải luôn chính xác về mặt khoa học, đảm bảo tính thẩm mỹ, mang tính giáo dục đồng thời có tác dụng giáo dục và phát triển trí tuệ đối với học sinh.

       Hơn nữa  Như chúng ta đã biết, việc đổi mới phương pháp dạy học luôn là nhiệm vụ quan trọng trong công tác giảng dạy và học tập của mỗi giáo viên. Mục đích cuối cùng của việc giảng dạy là người giáo viên (GV)  phải truyền thụ đầy đủ các tri thức khoa học đến học sinh (HS). Nhưng làm thế nào để các tri thức khoa học đó được người học tiếp cận nó một cách tự nhiên có hiệu quả, vận dụng và nhớ lâu, đó mới là điều quan trọng và mới đạt được mục tiêu của việc dạy học. Chính vì vậy trong những năm gần đây, khi giảng dạy mỗi GV luôn tìm tòi và vận dụng nhiều phương pháp dạy học sao cho giờ dạy đạt kết quả cao. Nhưng không phải cứ sử dụng nhiều phương pháp mới là đổi mới dạy học. Điều quan trọng là mỗi GV phải sử dụng các phương pháp đó như thế nào cho hiệu quả và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, với nội dung kiến thức từng bài.

      Chúng ta đều biết, Comenxki - Ông tổ của nền sư phạm cận đại, đã nói có ý như sau: "Muốn người học tiếp thu nhanh chóng và hứng thú, tốt nhất người dạy phải biết dùng ngôn ngữ càng vui nhộn, hài hước càng tốt". Trong chương trình đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay, cấu trúc nội dung chương trình sách giáo khoa nói chung đã tạo cơ hội để người dạy thay đổi các hình thức tiếp cận theo xu hướng trên nhằm tăng hiệu quả học tập cho HS. Trò chơi học tập (TCHT) là một trong những cách tiếp cận như vậy - Nó đặc biệt có hiệu quả đối với bậc Tiểu học, nhất là đối với phân môn Lịch sử - Địa lí lớp 4,5. Nhưng làm thế nào để phát huy được tác dụng của việc đưa TCHT vào phân môn Lịch sử, Địa lí đạt kết quả cao, đó là điều mà tôi hằng trăn trở và tôi đã đầu tư thời gian để kiểm nghiệm qua thực tế giảng dạy của mình và của đồng nghiệp, rút ra kinh nghiệm cho bản thân thông qua đề tài:

    "Đề tài

    " Một số biện pháp chỉ đạo để nâng cao chất lượng dạy học phân môn Lịch sử địa lý lớp 4,5 ở trường TH ..”

     

    2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:

      Qua các biện pháp sau học sinh tiếp thu kiến thức lịch sử một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, giờ học sinh động hơn, làm sống lại những sự kiện, nhân vật lịch sử, quá khứ anh hùng dân tộc một cách tự nhiên, chân thực. Đồng thời các em biết và hiểu lịch sử nắm được đặc điểm điều kiện, địa lí tự nhiên của đất nước ta một cách sâu sắc hơn, tránh sự gò bó, áp đặt trong việc lĩnh hội kiến thức, địa lí, lịch sử.

    3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

     -Học sinh khối 4-5 trường Tiểu học .

     -Nội dung chương trình môn Địa lí - Lịch sử

     -Đồ dùng dạy học môn Địa lí- lịch sử lớp 4-5

    4.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

    -Tìm hiểu tác dụng của việc đưa trò chơi học tập vào dạy học môn Lịch sử và Địa lí lớp 4-5

    -Điều tra, khảo sát HS qua các giờ học đưa trò chơi học tập vào giờ học lịch sử và địa lí.

    -Tìm hiểu những nguyên nhân và các biện pháp, khi đưa TCHT vào dạy học Lịch sử , Địa lí, nhằm nâng cao kết quả giờ học.

    5.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

       -Phương pháp khảo sát và đánh giá

       -Phương pháp phỏng vấn và điều tra thực trạng

       -Phương pháp trực quan

       -Phương pháp tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm.

       -Phương pháp hỏi đáp

    6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

    -Thời gian thực hiện đề tài:  1 năm học : 2012-2013

    -Đối tượng HS khối 4,5 trường Tiểu học………….

                                   

     

    PHẦN 2: Nội dung

     

    1.CƠ SỞ LÝ LUẬN:

         Như chúng ta biết, năm học 2012-2013 với chủ đề  tiếp tục đổi mới quản lý giáo dục, ứng dụng CNTT…đổi mới phương pháp nâng cao chất lượng dạy học. Đòi hỏi mỗi giáo viên phải đáp ứng yêu cầu đổi mới trong dạy học. Đổi mới nội dung…phát huy tính tích cực, độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, giúp học sinh say mê học tập, chủ động nắm kiến thức một cách tốt nhất.

      Có nhà giáo dục trẻ đã nói: “Trẻ không sợ học mà chỉ sợ những tiết học đơn điệu nhàm chán”. Ở bậc tiểu học, do đặc điểm học sinh hiếu động, tư duy được hình thành từ trực quan sinh động, nên những khái niệm, sự kiện rất dễ nhớ và rất dễ quên. Đặc biệt là những sự kiện lịch sử, hiện tượng địa lý, hay những kiến thức về khoa học. Nếu như những sự kiện kiến thức hiện tượng đó được thể hiện bằng những hình ảnh sống động, đoạn phim, tư liệu tham khảo màu sắc đẹp kết hợp âm thanh …chắc chắn tiết học sẽ hiệu quả, học sinh nắm bài thích học hơn những tiết học chỉ với tranh tĩnh, bảng phấn.của giáo viên, học sinh chóng mệt mỏi, tiếp thu bài kém hơn.

    Dạy học ngày nay không thể áp dụng phương pháp dạy học ngày xưa: thầy đọc trò chép, mà dạy học ngày nay ngoài việc đổi mới phương pháp, hình thức dạy học đa dạng phong phú, sử dụng đồ dùng dạy học có hiệu quả. Điều quan trong là trong quá trình dạy học mỗi giáo viên cần biết đưa CNTT vào giảng dạy, giúp học sinh hứng thú học tập hơn, nắm sâu kiến thức góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong  mỗi nhà trường.

    Ngày nay, công nghệ thông tin (CNTT) đang ngày càng đóng vai trò quan trọng và trở thành một phần không thể thiếu trong lĩnh vực đời sống xã hội . Đặc biệt là trong khoa học và giáo dục, cùng với đầu tư trang thiết bị thì đổi mới phương pháp, ứng dụng CNTT trong dạy học là việc làm quan trọng và có ý nghĩa để nâng cao chất lượng dạy học. Điều đó, đòi hỏi người giáo viên (GV) phải đầu tư, nghiên cứu tìm tòi, mạnh dạn ứng dụng thành tựu CNTT vào công việc giảng dạy để bắt kịp với xu thế phát triển của thời đại, đáp ứng với yêu cầu công tác đổi mới giáo dục hiện nay.

    Vậy thế nào là ứng dụng CNTT trong dạy học?  Nghĩa là giáo viên có thể sử dụng các đồ dùng thiết bi dạy học hiện đại, bài giảng điện tử,máy chiếu, sưu tầm tranh ảnh, tư liệu LS- ĐL và bằng thiết bị dạy học hiện đại làm cho nó sống lại, hiện lại quá khứ lịch sử, bổ sung thêm kiến thức để bài  học chất lượng, giờ học hiệu quả.

     Nghiên cứu nội dung sách LS và ĐL ở tiểu học , chúng ta thấy SGK có hệ thống kênh hình rất phong phú đa dạng bao gồm tranh ảnh, bản đồ, lược đồ được các tác giả biên soạn sách lựa chọn có tính khoa học và tính tư tưởng cao.

     

       Trong các phân môn ở tiểu học, phân môn  Lịch sử và Địa lí là một môn khó dạy. Đối với học sinh tiểu học chưa yêu cầu các em học lịch sử theo các triều đại  và các niên kỉ, hiểu về đặc điểm điều kiện tự nhiên đất nước con người Việt Nammột cách có hệ thống như ở trường Trung học. Tuy nhiên  để đạt được những yêu cầu trên thì những tri thức về lịch sử và địa lí  được  trình bày thông qua tranh vẽ, ảnh chụp, lược đồ, bản đồ, các đoạn phim, sa bàn mô tả lại  trận đánh, các di tích khảo cổ, di tích lịch sử và những truyền thuyết, những câu chuyện về những sự kiện, những nhân vật lịch sử phải điển hình. Để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử và địa lí, giáo viên cần sử dụng hợp lí các phương pháp dạy học khác nhau, trong đó có sử dụng trò chơi là cần thiết. Phương pháp này phù hợp đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học, với định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay ở tiểu học theo phương châm “Nhẹ nhàng hơn, tự nhiên hơn, hiệu quả hơn

         2. Thực trạng của dạy Lịch sử- Địa lý

       Qua điều tra thực trạng việc giảng dạy của giáo viên và thực tế đi kiểm tra dự giờ ở trường Tiểu học …….nói riêng và các trường tiểu học trong huyện nói chung thì việc sưu tầm tư liệu, tranh ảnh, khai thác kênh hình trong SGK lịch sử và địa lý ở lớp 4,5 của giáo viên nhìn chung là tốt. Một số thầy cô giáo có tinh thần trách nhiệm tâm huyết với nghề, luôn sáng tạo,tìm tòi, sưu tầm tư liệu tranh ảnh rất phong phú. Song việc khai thác, sưu tầm tư liệu để nâng cao chất lượng giờ dạy còn nhiều hạn chế ở một số GV, giáo viên ngại sưu tầm, thuờng dạy chay, chỉ khi nào đăng ký giờ giảng thi, hoặc thi dạy tốt mới sử dụng giáo án điện tử, sử dụng máy, đồ dùng, không khai thác triệt để nội dung tranh, kênh hình đã có sẵn trong sách giáo khoa, trong quá trình sử dụng máy tính lúng túng, phải có người hỗ trợ do  một phần do trình độ tiếp cận CNTT còn hạn chế , nên ảnh hưởng đến chất lượng dạy học. Vì vậy mà nội dung bài học chưa sâu, kiến thức chưa khai thác hết .

        Kết quả khảo sát 4,5 đầu năm tỷ lệ học sinh yếu vẫn còn, tỷ lệ học sinh trung bình cao qua bảng dưới đây.

     

                 MÔN

    KHÔI

    Số học

    sinh

    Điểm Môn Lịch sử - Địa lí

    9-10

    7-8

    5-6

    3-4

     Khối 4

    135

    13

    34

    76

    12

    Tỉ lệ %

    100.%

    9.6

    25.2

    56.3

    8.9

    Khối 5

    134

    12

    32

    80

    10

    Tỉ lệ %

    100%

    9.0

    23.9

    59.7

    7.4

     

    3. Một số biên pháp chỉ đạo để nâng cao chất lượng dạy - học môn Lịch Sử - Địa lý.

    3.1. Biệp pháp 1: Giáo viên phải nắm chắc nội dung chưong trình giảng dạy từng giai đoạn lịch sử của khối mình dạy.

    +  Lịch sử lớp 4 chia làm 8 giai đoạn:

    - Buổi đầu dựng nứớc và giữ nước( Khoảng 700 năm TCN đến năm 179:  gồm  2 bài).

     -Hơn một nghìn năm đấu tranh giành độc lập (Từ năm 179 TCN đến năm 938-gồm 3 bài,)

     - Buổi đầu độc lập            ( Từ năm 938 đến năm 1009 gồm 2 bài)

     - Nước Đại Việt thời Lý    ( Từ 1009 đến 1226 gồm 3 bài)

     -Nước Đại Việt thời Trần (Từ  năm 1226-  năm 1400 gồm 4 bài)

     - Nước Đại Việt buổi đầu thời hậu Lê (Thế kỷ XV gồm 4 bài)

     - Nước Đại Việt thế kỷ XVI-XVIII gồm 6 bài)

    - Buổi đầu thời Nguyễn      (Từ năm 1802 đến 1858 gồm 2 bài)

      Lịch sử lớp 5 chia làm 4 giai đoạn.

    Hơn tám mươi năm chống thực dân Pháp xâm lược và đô hộ (1858-1945 gồm 10 bài và 1 bài ôn tập).

    Bảo về chính quyền non trẻ, trường kỳ kháng chiến chống thực dân pháp (1945-1954- gồm 6 bài + 1 bài ôn tập)

     -Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước (1954-1975 gồm 8 bài)

    Xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước( Từ 1975-nay gồm 2 bài + 1 bài ôn tập).

      Giáo viên có nắm chắc chương trình để thấy được mốc thời gian lịch sử từng giai đoạn và các sự kiện diễn ra, thời gian trước với thời gian sau nối tiếp như thế nào, bài truớc bài sau có liên quan như thế nào? Từ đó định hướng mạch kiến thức, soạn bài, chuẩn bị phương tiện đồ dùng, sưu tẩm tranh ảnh bổ sung sao cho hợp lý nhất.

    3.2.Biệp pháp 2:  Yêu cầu giáo viên phải lập kế hoạch và soạn giáo án, chuẩn bị các phương án

    Đây là bước đầu tiên nhưng rất quan trọng đối với mỗi gv, phải nghiên cứu kỹ bài, xác định vị trí, mục đích yêu cầu và kiến thức cở bản trọng tâm của bài, hiểu được ý tưởng của SGK để lập kế hoạch, trên cở  sở đó lựa chọn loại kênh hình cần thiết sử dụng trong bài, kiến thức cơ bản không chỉ ở kênh chữ mà còn nằm ở kênh hình như tranh ảnh, bản đồ lược đồ...do đó giáo viên cần nghiên cứu để hướng dẫn học sinh khai thác khi dạy trên lớp.

    Loại nào dùng để cụ thể hoá một sự kiện LS quan trọng.giáo viên cần phân loại cụ thể từng loại trong SGK trong từng bài ,thông qua trong buổi sinh hoạt tổ chuyên môn và tổ tham gia đóng góp ý kiến nên thực hiện như thế nào cho hợp lý với bài đó.

         + Đối với tranh ảnh.

         + Luợc đồ.

      + Bản đồ, bảng thống kê số liệu, biểu đồ...Từ đó hướng dẫn học sinh khai thác sao cho hiệu quả.

         VD Môn địa lý 4.5:Tranh ảnh Thành phố Đà Lạt, lược đồ khu trung tâm thành phố và một số tranh ảnh: Thông qua tranh ảnh thể hiện rõ kiến thức của bài: Vị trí Hồ Xuân Hương, một số điểm du lịch nổi tiếng của Đà Lạt.   

     

     

                    Thác Cam Ly                                              Hồ Xuân Hương

      

     

           Bài 21tr127 (lược đồ thành phố Hồ Chí Minh)…

                               

     

    +/ Giáo viên tìm hiểu nội dung kiến thức ẩn trong mỗi kênh hình:

      Đối với lược đồ nói về diễn biến một cuộc khởi nghĩa, một chiến dịch.

     Gv cần đọc kỹ, kết hợp với nguồn tài liệu tham khảo có liên quan gúp học sinh hiểu sâu sắc về sự kiện.

     

     

     + Loại kiến thức liên quan đến sự kiện trong bài nhưng ít được bài viết trong sách nhắc đến đó là tranh ảnh lịch sử, nói về tiểu sử của nhân vật, một hình ảnh. Loại này giáo viên cần đầu tư thời gian tìm hiểu xuất xứ nội dung (Tuợng Lý Thái Tổ, Nhà Lý dời đô ra Thăng Long,Tuợng Quang Trung...)

     

              

                      Tượng Lý Thái Tổ ( Hà Nội )                     Tượng Quang Trung ( Hà Nội )

            

     Bài  : Khởi nghĩa Hai Bà Trưng  ( LS 4)

     

               

     

    Hai Bà Trưng cưõi voi ra trận

     

     

                                

                                   Lãnh tụ nguyễn Ái Quốc (LS lớp 5)

    Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập.

     

     

     

     

                                  Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945                           

     

     

       Bài 28: Kinh thành Huế Ngọ Môn (LS 4 t r67)

     

     

     

     

    Bài : Du lịch và thương mại

     

     

     

    Chợ Bến Thành

     

     Với loại tranh, GV hết sức chú ý tránh sa đà quá, bỏ qua kiến thức của bài.

     + Loại kiến thức trong sách được cung cấp bằng số liệu cụ thể theo thời gian liên quan đến kinh tế, điều tra số liệu học sinh có thể tự nhận xét, so sánh,đánh giá như biểu đồ lịch sử.

      Ví dụ :Bảng số liệu về diện tích và dân số của một số thành phố -Bài thành phố Hồ Chí Minh( Địa lý lớp 4)

     

    Thành phố

    Diện tích(km2)

    Số dân năm 2003

    ( nghìn người)

    Hà Nội

    921

    3007

    Hải Phòng

    1503

    1754

    Đà Nẵng

    1247

    747

    TP Hồ CHí Minh

    2090

    5555

    Cần Thơ

    1389

    1112

     

    Qua bảng số liệu trên học sinh so sánh diện tích và dân số TP Hồ Chí Minh với các thành phố khác-qua việc so sánh bảng trên giáo viên phải cập nhật được thực tế dân số hiện nay của Thành phố Hồ Chí Minh, từ số liệu dân số, diện tích, HCM đã phát triển về khoa học, kinh tế như thế nào và các sản phẩm của ngành công nghiệp đó ra sao. Bắt buộc giáo viên phải sưu tầm, tìm kiếm thông tin .

    Hay: Bảng số liệu về nhiệt độ của Hà Nội và TP Hồ Chí Minh dưới đây thì ngoài những thông tin trong sách GK thì Giáo viên cần có những thông tin thực tế  sự thay đổi khí hậu hiện nay ảnh hưởng đến sản xuất như thế nào. Từ đó nhiệm vụ  của mỗi chúng ta phải làm gì hạn chế sự biến đổi khí hậu đó.( Địa Lý lớp 5-Bài Khí hậu) 5)

    Địa điểm

    Nhiệt độ trung bình ( 0C )

    Tháng 1

    Tháng 7

    Hà Nội

    16

    29

    TP. Hồ Chí Minh

    26

    27

     

    Nhiệt độ hàng năm tăng cao hơn, nước biển dâng lên, hiện tượng trái đất nóng dần lên, lũ lụt thiên tai, các bệnh dịch ngày càng gia tăng. Thái độ của chúng ta?.để hạn chế sự nóng lên của trái đất.

     

    - Dạy bài “Người dân và hoạt động sản xuất ở đồng bằng duyên Hải miền Trung”  (ĐL lớp 4)-tr140.Qua bảng dưới đây, yêu cầu học sinh giải thích vì sao đồng bằng duyên hải miền Trung lại có các hoạt động sản xuất trên.(là yếu tố thuận lợi về điều kiện địa lý: sông ngòi, khí hậu,đất đai...)

    Tên hoạt động

    Sản xuất

    Một số điều kiện để sản xuất.

    Trồng lúa

    Đất phù sa tương đối màu mỡ

    Trồng mía

    Đất cát pha, khí hậu nóng

    Làm muối

    -Nước biển mặn

    - Nhiều nắng

    Nuôi,đánh bắt

    thuỷ sản

    -Biển, đầm phá, sông

    -Người dân có kinh nghiệm nuôi tròng, đánh bắtvà chế biến thuỷ sản.

      + Loại nào thay hố trợ cho kênh hình trong bài, loại nào dùng khắc sâu kiến thức cho học sinh. Dự kiến phương án, bài này sử dụng như thế nào, tranh ảnh nào dùng  cần CNTT khai thác cho hợp lý. Nếu như việc chuẩn bị của GV không tốt sẽ dẫn đến sai lệch trọng tâm bài, hoặc lạm dụng máy như thế hiệu quả bài không cao.Bản thân mỗi chúng ta những giáo viên không thể khẳng định chắc được là mình biết lịch sử thì sẽ dạy tốt lịch sử.Vì vậy, ta phải đảm bảo tính vừa sức với học sinh, nhất là học sinh tiểu học.

     

    Tranh : Đoàn xe thồ phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ

     

     

     

       Tóm lại việc soạn giáo án, lập kế họạch, chuẩn bị tốt các phương án dạy học là rất quan trọng, nếu giáo viên chuẩn bị chu đáo, nghiên cứu kỹ nội dung các loại kênh hình có trong bài, dự kiến các tình huống thì chắc chắn tiết học nào cũng sẽ thành công và đạt hiệu quả cao.ngoài việc soạn bài,lập kế hoạch giảng dạy việc ƯDCNTT khai thác tranh,ảnh có hiệu quả nâng cao chất lượng dạy- học không thể thiếu và rất quan trọng.

    3.3 Biệp pháp 3: .Ứng dụng CNTT khai thác kênh hình và trình chiếu giảng dạy trên lớp.

    .

    Việc trình chiếu KHLS lên màn hình lớn PowerPoint ( nhờ sự kết nối  máy vi tính Với Projector) học sinh sẽ được trực quan sinh động và tư duy trừu tượng rõ hơn. Khác hẳn với kênh hình nhỏ SGK, từ lược đồ treo tường,bản đồ hành chính…chỉ có yếu tố tĩnh trong sách giáo khoa thì không hấp dẫn, GV đưa CNTT vào tạo hiệu ứng trình chiếu từng phần xây dựng thành lược đồ “ động” với những mũi tên hướng tấn công nhấp nháy khi trình bày diễn biến của một sự kiện, một trận đánh ( giáo viên dùng que chỉ hoặc tia laze, giới thiệu tên gọi theo vòng tròn từ trái sang phải, kèm theo ký hiệu quan trọng ở phần chú thích, như mũi tấn công của địch, hướng rút lui, tấn công của ta, các đồn địch, sở chỉ huy ), học sinh rất chăm chú quan sát  hứng hú học tập. Điều đó chứng tỏ rằng nếu như chúng ta cứ đơn điệu sử dụng phương pháp truyền thống thầy dạy, trò chép sẽ gây tâm lý chán, căng thẳng, mệt mỏi cho học sinh và việc tiếp thu bài cũng hạn chế hạn chế .Trong sách GK môn LS-ĐL rất nhiều bài phải sử dụng lược đồ, nếu giáo viên chỉ dùng lược đồ SGK chụp trên màn hình, thì chẳng khác nào lược đồ SGK( bộ đồ dùng lược đồ đó có sẵn đảm bảo tính thẩm mỹ )

    Một số  lược đồ GV ứng dụng CNTT để trình chiếu trên máy có sử dụng một số hiệu ứng động như:

         - Luợc đồ trận chiến trên sông Bạch Đằng.

    Khu di tích Cổ Loa (Tr16.L.sử lớp 4)

     

     

     

     

     

     

     

    Quân Tống Theo đường thuỷ và đường bộ

     

    - Luợc đồ Quang Trung đại phá quân Thanh (Tr61)

     

          

      

    - Luợc đồ chiến dịch Điện Biên Phủ-tạo hiệu ứng nhấp nháy đường tiến của ta và rút chạy của địch.

     

     

     

      -Tiến  vào dinh Độc lập ( đoạn video clip)

     

     

    Bài : Sông ngòi ( lược đồ sông ngòi cũng sử dụng hiệu ứng động)...

                   

     

              

    Cho HS quan sát lược đồ trên và trả lời câu hỏi sau :

    -   Nêu tên và chỉ trên bản đồ số sông ở nước ta ?

       Không chỉ đối với lược đồ mà trong việc khai thác tranh ảnh muốn đạt kết quả cao thì GV cũng nên  sử dụng một số hiệu ứng để học sinh được quan sát, như vậy tiết học mới sôi nổi, không mhàm chán.

       3.4.Biệp pháp 4: Giáo viên hướng dẫn và tổ chức cho học sinh khai thác có hiệu quả nội dung kênh hình.

      Để bài dạy có chất lượng

     Kiến thức cơ bản  sách giáo khoa không phải chỉ ở phần kênh chữ mà một phần còn nằm ở kênh hình và chúng được ẩn chứa trong các lược đồ ,tranh ảnh,và biểu đồ lịch sử hoặc địa lí….Điều đó, đòi hỏi học sinh ngoài việc đọc SGK còn phải có nhiệm vụ khai thác kiến thức ẩn trong kênh hình. Song, học sinh không thể tự mò mẫm, tự phát hiện tìm hiểu những kiến thức ẩn trong đó mà phải dưới sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên để khai thác nội dung. Giáo viên không chỉ giúp học sinh tự khám phá được một phần kiến thức trong bài học mà còn là biện pháp  không thể thiếu của thầy và trò trong qúa trình đổi mới phương pháp dạy học, nó khác hoàn toàn với việc dạy chay, học chay, đồng thời bác bỏ  một số ý kiến cho rằng dạy học lịch sử khô khan từ trước tới giờ ở một số giáo viên.

      Để làm được điều đó đòi hỏi GV phải nắm vững kiến thức, có phương pháp và nghiệp vụ sư phạm thật tốt khi hướng dẫn học sinh khai thác nội dung kênh hình đó bằng những câu hỏi dễ, dẫn dắt học sinh tìm hiểu có như vậy mới tạo cho học sinh hứng thú học tập bộ môn, nâng cao sự hiểu biết của học sinh về mỗi sự kiện lịch sử, đồng thời góp phần phát triển năng lực học tập của các em.

      Ví dụ: - Tranh khởi nghĩa Hai Bà Trưng(Lớp 4- Học sinh quan sát tranh- Đây là tranh vẽ gì? Vì sao Hai Bà Trưng khởi nghĩa ? Dựa vào lược đồ kể lại cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.

     

     

      

    + Với lược đồ thành phố Hải phòng

     

    Bài : Kinh Thành Huế

     

     

     

     

    Lược đồ Kinh Thành Huế

    Quan sát hình 2,3,4(t146 )

     

    cho biết các địa danh đó ở đâu.Vì sao Huế được gọi là thành phố du lịch?

      Ví dụ: Quan sát tranh Bác Hồ trong Chiến dịch thu- đông 1950,

                   Nhiều GV mới chỉ dừng lại ở chỗ cho học sinh biết đây là tranh vẽ Bác trên trận địa chỉ huy chiến dịch.  Tại sao ? Ý nghĩa, cảm nghĩ của em với bức tranh như thế nào, thì học sinh chưa hiểu được.(Ở đây GV chỉ cho học sinh biết Bác ra trận để chỉ huy trận đánh, Bác động viên hỏi han các chiến sỹ, GV nên nói rõ hơn: “Tháng 9-1950 Bác đến căn cứ Việt Bắc, Người đến Sở chỉ huy Tà phầy sử - Quảng Yên bắc Cao Bằng , Người leo núi trực tiếp quan sát trận địa, động viên chiến sỹ. Cũng chính từ ngưồn cảm hứng trên cao điểm Người sáng tác bài thơ Đăng Sơn...” ….

                         “ Chống gậy lên non xem trận địa

                            Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây

                            Quân ta khí mạnh nuốt ngưu đẩu

                             Thề diệt xâm lang lũ sói cầy”.

     

    3.5. Biệp pháp 5: Sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở.

        Ngoài việc ứng dụng CNTT, trình chiếu xong, cho học sinh quan sát, nhấn mạnh rồi đặt câu hỏi gợi mở  giúp học sinh hiểu kỹ bài , ý nghĩa của sự kiện. Chúng ta có thể  sử dụng câu hỏi gợi mở cho học sinh thảo luận với hình. Song cần tuỳ thuộc và mỗi loại kênh hình mà GV có thể đưa ra câu hỏi sao cho phù hợp (câu hỏi khuyến khích học sinh trình bày sự hiểu biết của mình liên quan đến hình, câu hỏi yêu cầu các em quan sát và đưa nhận xét.

    Ví dụ: - Bài Chiến thắng Việt Bắc thu - đông hình ảnh Bác Hồ quan sát trận địa

     ( ở trên)

       + GV hỏi : Em có nhận xét gì về bức hình này?

       + Nhận xét gì về tinh thần chiến đấu của các chiến sỹ….

    -         Hình 3 : Tù binh Pháp trong chiến dịch Biên giới  thu-đông 1950.

     

     

     + Em có nhận xét gì về bức hình trên ?

    -         Bài : Lễ ký Hiệp định Pa-ri về ViệtNamngày 27-1-1972 –GV đặt câu hỏi:

     

    + Theo em Hiệp định Pa-ri Mỹ phải thực hiện những điều gì?

    + Hiệp định có ý  nghĩa lịch sử như thế nào?

     

       3.6. Biệp pháp 6: Sử dụng  trò chơi trong dạy học môn Lịch sử Địa Lý lop 4,5

    * Trò chơi ô chữ kỳ diệu :

      Ví dụ:  khi học bài Chiến thắng Chi Lăng - Lịch sử 4, để củng cố lại những kiến thức cơ bản trong bài cuối tiết học tôi cho HS chơi trò chơi có tên gọi:

    "Ô chữ kì diệu"

     Ở ô chữ này tôi thiết kế 5 câu hỏi như sau:

     + Câu hỏi 1: Ô chữ gồm 7 chữ cái chỉ tên một ải mà nơi đây còn được gọi là mồ chôn quân Minh? ( GV nhấn chuột vào ô số 1- câu hỏi 1 sẽ hiện ra)

        Muốn cho HS thấy được đáp án đúng, GV chỉ cần nhấn chuột trên màn hình thì kết quả hiện ra trên ô chữ đó là : CHI LĂNG

    + Câu 2: Theo truyền thuyết đây là một dòng chữ được đề trên chuôi gươm mà Đức Long Quân đã trao cho Lê Lợi. ( GV nhấn chuột vào ô số 2- câu hỏi 2 sẽ hiện ra)

      Để biết được đáp án đúng GV cũng làm như ở câu hỏi 1.

      Đáp án câu 2:  THUẬN THIÊN

    + Câu hỏi 3: Tên của tướng chỉ huy quân giặc bị giết tại ải Chi Lăng ? (GV nhấn chuột vào ô số 3 - câu hỏi 3 sẽ hiện ra)

     Đáp án câu 3: LIỄU THĂNG

    + Câu hỏi 4: Trận Chi Lăng có ý nghĩa như thế nào? (GV nhấn chuột vào ô số 4 - câu hỏi 4 sẽ hiện ra)

     Đáp án câu 4: THẮNG LỢI

    + Câu hỏi 5: Tên một hồ lớn ở thủ đô Hà Nội liên quan đến truyền thuyết Rùa vàng?  (GV nhấn chuột vào ô số 5 - câu hỏi 5 sẽ hiện ra)

     Đáp án câu 5: HOÀN KIẾM

      Từ hàng dọc: LÊ LỢI

     *Ô chữ hoàn thiện như sau:

     

     *. Trò chơi Rung chuông vàng

       Bên cạnh trò chơi Ô chữ kì diệu, trò chơi Rung chuông vàng là trò chơi HS rất thích, trò chơi này không những củng cố được một khối lượng lớn kiến thức ở tất cả các bộ môn mà nó còn huy động một khối lượng lớn người tham gia chơi. Mặt khác nó rất dễ thiết kế, GV không phải mất nhiều thời gian vào việc chuẩn bị trò chơi. Chính vì vậy nó được sử dụng trong các tiết ôn tập cả chương hay cuối kì.

      Để  phát huy được mục đích, tác dụng và tính hấp dẫn của trò chơi này, GV có thể sử dụng công nghệ thông tin để thiết kế các Slide. Muốn vậy GV phải chuẩn bị hệ thống các câu hỏi, tranh ảnh, đoạn phim, lược đồ có liên quan tới kiến thức bài dạy.

         Ví dụ khi dạy Bài 20 - Ôn tập - lịch sử lớp 4. Để hệ thống lại các giai đoạn, các sự kiện lịch sử tiêu biểu, tôi cho HS chơi trò chơi  "Rung chuông vàng".

     

     

     

     

     

    *Trò chơi "Hướng dẫn viên du lịch" 

       GV chia lớp làm 2 đội, các đội sưu tầm các tranh ảnh về địa danh có liên quan đến bài học, sau đó cử 1 Học sinh vào vai "Hướng dẫn viên" giới thiệu cho các bạn kiến thức bài học thông qua hình ảnh, tranh vẽ có trong bài hoặc sưu tầm được. Từ đó học sinh nắm lại được nội dung bài học. Sau đó GV cho cả lớp bình chọn " Hướng dẫn viên du lịch xuất sắc nhất"

      Ví dụ khi học bài Đà Lạt - Địa lí lớp 4:

    GV gợi ý HS có thể sưu tầm một số hình ảnh về Đà Lạt như sau:                                                 

     

                  Rừng thông                                  Sân Gôn

     

     

            Dinh vua Bảo Đại                    Vườn hoa Đà lạt

     

       -> Tóm lại :  Việc giáo viên nắm vững kiến thức, phương pháp và có nghiệp vụ sư phạm tốt. Khi hướng dẫn HS khai thác nội dung KH trong sách cũng là một biện pháp quan trọng gây hứng thú học tập, nâng cao sự hiểu biết của học sinh về mỗi sự kiện lịch sử đồng thời góp phần phát triển năng lực học tập của các em.Trong dạy học không có phương pháp nào là vạn năng, mỗi phương pháp có tính ưu việt riêng. Nên GV cần phải vận dụng các phương pháp linh hoạt, khi vấn đáp khi thì quan sát, khi dùng phương pháp mô tả…có như vậy chất lượng dạy- học mới cao.

                                 Kết quả khảo sát học sinh cuối kì I.

     

                 MÔN

     

    KHÔI

    Số học

    sinh

    Điểm Môn Lịch sử - Địa Lý

    9-10

    7-8

    5-6

    3-4

     Khối 4

    135

    24

    55

    54

    2

    Tỉ lệ %

     

    17.8

    40.7

    40.0

    1.5

    Khối 5

    134

    24

    58

    51

    1

    Tỉ lệ %

     

    17.9

    43.3

    38.1

    0.7

     

    Kết quả khảo sát học sinh cuối kì II.

     

                 MÔN

     

    KHÔI

    Số học

    sinh

    Điểm Môn Lịch sử-Địa lý

    9-10

    7-8

    5-6

    3-4

     Khối 4

    135

    29

    59

    47

    0

    Tỉ lệ %

     

    21.5

    43.7

    34.8

    0

    Khối 5

    134

    30

    60

    44

    0

    Tỉ lệ %

     

    22.4

    44.8

    32.8

    0

     

    Qua kết quả khảo sát trên ta thấy chất lượng học của học sinh đã có nhiều chuyển biến rõ rệt, số lượng học sinh khá giỏi cũng tăng lên nhiều so với kết quả khảo sát ban đầu, cuối kỳ II không còn học sinh yếu. Điều đó càng khẳng định việc sưu tầm tư liệu, tranh ảnh đầu tư giảng dạy bằng CNTT là đúng đắn trong việc nâng cao chất lượng dạy học rất quan trọng , là yêu cầu không thể bỏ qua trong dạy học ngày nay. Như chúng ta vẫn nói: “ Nếu như thầy dạy giỏi sẽ không có trò học rốt”.

     

                                     

                                          PHẦN 3: KẾT LUẬN

     

    1- Kết luận chung:

     Có thể một lần nữa khẳng định lại việc sưu tầm tư liệu, tranh ảnh ứng dụng CNTT trong dạy- học nói chung và dạy học LS-ĐL nói riêng cũng như một số môn học khác ở tiểu học góp phần to lớn và quan trọng để nâng cao chất lượng dạy- học ở trường tiểu học,học sinh chủ động nắm kiến thức,tiết học không bị nhàm chán thì không thể tồn tại hình thức thầy dạy chay,trò học chay mà mỗi giáo viên phaỉ sử dụng đồ dùng trực quan, bản đồ, lược đồ trong đó có việc ứng dụng CNTT khai thác nội dung tranh ảnh trong sách giáo khoa.Việc sưu tầm tư liệu, tranh ảnh ứng dụng CNTT hướng dẫn học sinh khai thác, hình ảnh, lược đồ, bảng thống kê số liệu của sách,  là một biện pháp hữu hiệu góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả bài dạy. Song để đạt được kết quả cao, người giáo viên ngoài việc nắm vững kiến thức chuyên môn,còn phải trang bị, bồi dưỡng cho mình một khả năng sư phạm, sử dụng các phương pháp dạy học linh hoạt. Biết kết hợp hài hoà phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại sao cho phù hợp thực tế của nhà trường. Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu cải cách giáo dục hiện nay và đáp ứng được mục tiêu giáo dục đã đặt ra đó là: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất và kỹ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở…”.

     

    2. Những kiến nghị:

     

     1. Hàng năm Các cấp Giáo dục nên tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng chương trình tin học cho đội ngũ giáo viên.

    2. Tăng cường cơ sở vật chất( máy chiếu,trang thiết bị hiện đại phục vụ cho giảng dạy, máy Projector, trang thiết bị hiện đại cho giáo viên phục vu học sinh.

     

    SKKN được xếp loại

    TM. HĐKD NHÀ TRƯỜNG

     

     

    Sóc Sơn, ngày 25  tháng 3  năm 2013

    Người viết đề tài :

     

     

     

     

     

                                                           

     

     

     

     

                                          

        


                  
          TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

     

     

    STT

    Tên sách

    Tác giả

    Nhà xuất bản

    1

    Sách giáo khoa Lịch sử-Địa lý lớp 4.5

    Nguyễn Anh Dũng

    NXBGD

    2

    SHD giảng dạy LS-ĐL 4,5

     

    N XBGD

    3

    Tạp chí Dạy học ngày nay .

     

     

    Tháng 9/2008

    4

    Luật GD Tiểu học

     

    NXBGD

    5

    Lý luận dạy  và học

    Bùi Hiển

    NXBGD

    6

    SGK khoa học lớp 5

    Bùi Phương Nga

    NXBGD

     

     PHẦN 1. MỞ ĐẦU

     

    1. 1.     LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

    Ở Tiểu học phân môn Lịch sử và Địa lý (LS- ĐL) thì kênh hình (KH) là một loại phương tiện trực quan quan trọng trong quá trình dạy học, cung cấp cho học sinh những kiến thức nội dung bài học. Hơn nữa, kênh hình sách giáo khoa (SGK) còn chứa đựng và có nhiệm vụ chuyền tải một lượng thông tin của giáo viên trong quá trình dạy học tới học sinh .Cho dù là loại kênh hình nào, chúng đều có đặc điểm chung là phản ánh đúng đối tượng nghiên cứu, phù hợp với nội dung trình bày ở kênh chữ trong sách giáo khoa, những thông tin đó phải luôn chính xác về mặt khoa học, đảm bảo tính thẩm mỹ, mang tính giáo dục đồng thời có tác dụng giáo dục và phát triển trí tuệ đối với học sinh.

       Hơn nữa  Như chúng ta đã biết, việc đổi mới phương pháp dạy học luôn là nhiệm vụ quan trọng trong công tác giảng dạy và học tập của mỗi giáo viên. Mục đích cuối cùng của việc giảng dạy là người giáo viên (GV)  phải truyền thụ đầy đủ các tri thức khoa học đến học sinh (HS). Nhưng làm thế nào để các tri thức khoa học đó được người học tiếp cận nó một cách tự nhiên có hiệu quả, vận dụng và nhớ lâu, đó mới là điều quan trọng và mới đạt được mục tiêu của việc dạy học. Chính vì vậy trong những năm gần đây, khi giảng dạy mỗi GV luôn tìm tòi và vận dụng nhiều phương pháp dạy học sao cho giờ dạy đạt kết quả cao. Nhưng không phải cứ sử dụng nhiều phương pháp mới là đổi mới dạy học. Điều quan trọng là mỗi GV phải sử dụng các phương pháp đó như thế nào cho hiệu quả và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, với nội dung kiến thức từng bài.

      Chúng ta đều biết, Comenxki - Ông tổ của nền sư phạm cận đại, đã nói có ý như sau: "Muốn người học tiếp thu nhanh chóng và hứng thú, tốt nhất người dạy phải biết dùng ngôn ngữ càng vui nhộn, hài hước càng tốt". Trong chương trình đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay, cấu trúc nội dung chương trình sách giáo khoa nói chung đã tạo cơ hội để người dạy thay đổi các hình thức tiếp cận theo xu hướng trên nhằm tăng hiệu quả học tập cho HS. Trò chơi học tập (TCHT) là một trong những cách tiếp cận như vậy - Nó đặc biệt có hiệu quả đối với bậc Tiểu học, nhất là đối với phân môn Lịch sử - Địa lí lớp 4,5. Nhưng làm thế nào để phát huy được tác dụng của việc đưa TCHT vào phân môn Lịch sử, Địa lí đạt kết quả cao, đó là điều mà tôi hằng trăn trở và tôi đã đầu tư thời gian để kiểm nghiệm qua thực tế giảng dạy của mình và của đồng nghiệp, rút ra kinh nghiệm cho bản thân thông qua đề tài:

    "Đề tài

    " Một số biện pháp chỉ đạo để nâng cao chất lượng dạy học phân môn Lịch sử địa lý lớp 4,5 ở trường TH ..”

     

    2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:

      Qua các biện pháp sau học sinh tiếp thu kiến thức lịch sử một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, giờ học sinh động hơn, làm sống lại những sự kiện, nhân vật lịch sử, quá khứ anh hùng dân tộc một cách tự nhiên, chân thực. Đồng thời các em biết và hiểu lịch sử nắm được đặc điểm điều kiện, địa lí tự nhiên của đất nước ta một cách sâu sắc hơn, tránh sự gò bó, áp đặt trong việc lĩnh hội kiến thức, địa lí, lịch sử.

    3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

     -Học sinh khối 4-5 trường Tiểu học .

     -Nội dung chương trình môn Địa lí - Lịch sử

     -Đồ dùng dạy học môn Địa lí- lịch sử lớp 4-5

    4.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

    -Tìm hiểu tác dụng của việc đưa trò chơi học tập vào dạy học môn Lịch sử và Địa lí lớp 4-5

    -Điều tra, khảo sát HS qua các giờ học đưa trò chơi học tập vào giờ học lịch sử và địa lí.

    -Tìm hiểu những nguyên nhân và các biện pháp, khi đưa TCHT vào dạy học Lịch sử , Địa lí, nhằm nâng cao kết quả giờ học.

    5.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

       -Phương pháp khảo sát và đánh giá

       -Phương pháp phỏng vấn và điều tra thực trạng

       -Phương pháp trực quan

       -Phương pháp tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm.

       -Phương pháp hỏi đáp

    6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

    -Thời gian thực hiện đề tài:  1 năm học : 2012-2013

    -Đối tượng HS khối 4,5 trường Tiểu học………….

                                   

     

    PHẦN 2: Nội dung

     

    1.CƠ SỞ LÝ LUẬN:

         Như chúng ta biết, năm học 2012-2013 với chủ đề  tiếp tục đổi mới quản lý giáo dục, ứng dụng CNTT…đổi mới phương pháp nâng cao chất lượng dạy học. Đòi hỏi mỗi giáo viên phải đáp ứng yêu cầu đổi mới trong dạy học. Đổi mới nội dung…phát huy tính tích cực, độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, giúp học sinh say mê học tập, chủ động nắm kiến thức một cách tốt nhất.

      Có nhà giáo dục trẻ đã nói: “Trẻ không sợ học mà chỉ sợ những tiết học đơn điệu nhàm chán”. Ở bậc tiểu học, do đặc điểm học sinh hiếu động, tư duy được hình thành từ trực quan sinh động, nên những khái niệm, sự kiện rất dễ nhớ và rất d


    Nhắn tin cho tác giả
    Dương Thị Vân @ 10:20 23/12/2014
    Số lượt xem: 1298
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến