THỜI GIAN

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hoạt động của thư viện

    May_tinh_007.jpg May_tinh_005.jpg May_tinh_004.jpg May_tinh_001.jpg IMG_1723.jpg IMG_1626.jpg IMG_1719.jpg IMG_1619.jpg IMG_1625.jpg IMG_1720.jpg IMG_1722.jpg Hsinh_untitled1.bmp Hsinh_untitled.bmp Untitled_124.bmp

    Hoạt dông của nhà trường

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của Trường Tiểu Học Nam Sơn - Sóc Sơn - Hà Nội

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Bài viết >

    Sáng kiến kinh nghiệm lớp 3

                                               1. ĐẶT VẤN ĐỀ

    1.1 :Lý do đề tài:

         1. Dạy học phép nhân, phép chia là một trong những mục tiêu của môn Toán ở bậc tiểu học, là hình thành các kỹ năng thực hành tính toán. Do đó, ngay từ lớp 2, học sinh đã được làm quen với bảng nhân với 2, 3, 4, 5 trong phạm vi 100. Sang lớp ba, học sinh học bảng nhân với 6, 7, 8, 9 và nhân chia ngoài bảng trong phạm vi  100.000 (với số có một chữ số). Việc rèn luyện các kỹ năng thực hành phép nhân giúp cho học sinh nắm chắc một số tính chất cơ bản của các phép tính viết, thứ tự thực hiện các phép tính trong các biểu thức có nhiều phép tính , mối quan hệ giữa các phép tính (đặc biệt giữa phép cộng và phép nhân, phép nhân và phép chia). Đồng thời dạy học phép nhân , phép chia tên tập hợp số tự nhiên nhằm củng cố các kiến thức có liên quan đến môn toán như đại lượng và các yếu tố hình học, giải toán. Ngoài ra rèn kỹ năng thực hành phép nhân, phép chia còn góp phần trọng yếu trong việc phát triển năng lực tư duy, năng lực thực hành, đặc biệt là khả năng phân tích, suy luận lôgíc và phẩm chất không thể thiếu được của người lao động mới.

         Để dạy tốt nội dung phép nhân, phép chia các số tự nhiên: trước hết giáo viên cần nắm được bản chất Toán học của những kiến thức này. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có không ít giáo viên Tiểu học không nắm vững bản chất Toán học của phép nhân, phép chia các số tự nhiên. Như chúng ta đã biết: Có kiến thức toán học cơ bản của chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học về kiến thức đối với giáo viên. Cụ thể, giáo viên Tiểu học phải: Hiểu đúng đắn các khái niệm, định nghĩa Toán học; có khả năng chứng minh các quy tắc, công thức, tính chất Toán học được dạy ở Tiểu học dựa trên toán học hiện đại; có khả năng giải bài tập toán ở Tiểu học tốt ( thể hiện ở khả năng phân tích tìm tòi lời giải, khả năng trình bày bài một cách logic, chặt chẽ và có khả năng khai thác bài toán sau khi giải)…

            Do vậy cần giúp giáo viên Tiểu học nắm được bản chất toán học của phép nhân, phép chia các số tự nhiên.

          Với chương trình sách giáo khoa mới ở Tiểu học đang được đưa vào sử dụng trong toàn quốc. Sách giáo khoa Toán ở Tiểu học có rất nhiều đổi mới về cấu trúc nội dung, cách thể hiện nội dung nhằm đổi mới phương pháp dạy học. Rất nhiều giáo viên tiểu học vẫn chưa cập nhật vấn đề này, dẫn đến việc dạy học Toán ở Tiểu học nói chung, việc dạy nội dung phép nhân, phép chia các số tự nhiên nói riêng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học.

           Do đó  giáo viên cần nắm được cấu trúc nội dung của phép nhân, phép chia các số tự nhiên trong chương trình Toán tiểu học, nội dung và cách thể hiện nội dung phép nhân, phép chia các số tự nhiên. Bên cạnh đó giáo viên cũng nắm được phương pháp dạy học các nội dung này theo hướng đổi mới về phương pháp dạy học Toán. Điều này giúp cho việc dạy học phép nhân, phép chia các số tự nhiên đạt chất lượng cao hơn.

                Từ những lý do thực tế trên, qua nghiên cứu quá trình dạy học môn toán lớp 3  ở         

    bậc tiểu học. Là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy, kết hợp với những hiểu biết đã có và những điều mới mẻ lĩnh hội được từ các bài giảng, từ các bạn đồng nghiệp đồng thời để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cho bản thân mình, tôi đã chọn đề tài:

    “ Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt  phép nhân, phép chia số tự nhiên”.

    1.2: Mục đích nghiên cứu:

          Tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy học phép nhân, phép chia các số tự nhiên theo sách giáo khoa Toán lớp 3.

        Vận dụng phương pháp nghiên cứu để dạy học phép nhân, phép chia các số tự

    nhiên góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Toán Tiểu học nói chung và lớp

    3 nói riêng.

          Nâng cao tay nghề của bản thân, tôi rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp, các bậc lãnh đạo để đổi mới , nâng cao hiệu quả dạy học phép nhân, phép chia cho học sinh lớp 3.

     

    1.3.  Đối tượng nghiên cứu:

    - Giáo viên dạy khối lớp 3  trường Tiểu học Nam Sơn

    - 32 học sinh lớp 3B trường Tiểu học Nam Sơn.

    1.4:Nhiệm vụ nghiên cứu :

          Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa, chuẩn kiến thức kĩ năng cơ bản môn Toán lớp 3, phương pháp giảng dạy thông qua sách giáo viên, tài liệu bồi dưỡng phương pháp giảng dạy các môn học, Tạp chí giáo dục tiểu học hàng

    tháng, sách tham khảo về phương pháp dạy học…

    1.5: Thời gian nghiên cứu:

        -Từ ngày 15 tháng 9 năm 2012  đến ngày 5 tháng 4 năm 2013 .

    1.6: Giới hạn nghiên cứu :

         - Nghiên cứu tại trường Tiểu học Nam Sơn- huyện Sóc Sơn –tp Hà Nội.

    1.7: Phương pháp nghiên cứu:

         -Ngoài những phương pháp truyền thống như: phương pháp vấn đáp- giải thích minh họa ,phương pháp đặt và giải quyết vấn đề ,phương pháp trực quan .

        Sử dụng một số phương pháp dạy học:

    Thường được vận dụng trong dạy học toán ở tiểu học là: Thuyết trình, giảng giải minh hoạ, Gợi mở vấn đáp, Trực quan và thực hành; Luyện tập.

    Phương pháp thuyết trình là phương pháp dùng lời nói để trình bày ài liệu toán học cho học sinh.

    Phương pháp giảng giải minh hoạ là phương pháp dùng lời nói để giải thích nội dung toán kết hợp với việc dùng các tài liệu trực quan để hỗ trợ cho việc giải thích này. tuy nhiên các phương pháp này có những mặt hạn chế như: học sinh phải tiếp thu kiến thức một cách thụ động, chưa phát huy được tính tích cực nhận thức và không có điều kiện kiểm tra khả năng lĩnh hội kiến thức của học sinh.

    Phương pháp gợi mở vấn đáp là phương pháp dạy học không trực tiếp đưa ra những kiến thức đã hoàn chỉnh mà hướng dẫn học sinh tư duy bước một để các em tự tìm ra kiến thức mới phải học. Nó tương đối thích hợp trong dạy học toán tiểu học  làm cho không khí lớp học sôi nổi, sinh động; kích thích hứng thú học tập và lòng tự tin của học sinh; rèn luyện cho các em năng lực diễn đạt.

    Phương pháp trực quan trong dạy học toán ở tiểu học là phương pháp đặt biệt quan trọng, phương pháp này đòi hỏi giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động trực tiếp trên các sự vật cụ thể, thông qua đó nắm được những kiến thức và kỹ năng tương ứng.

    Phương pháp thực hành luyện tập là phương pháp giáo viên tổ chức cho học sinh luyện tập các kiến thức kỹ năng thông qua các hoạt động thực hành luyện tập. Hoạt động thực hành luyện tập chiếm hơn 50% tổng thời gian dạy học toán tiểu học, vì thế phương pháp này thương xuyên được sử dụng.

    dạy học môn Toán ở Tiểu học nói chung, đặc biệt dạy học phép nhân nói riêng, các biện pháp truyền thống như: Trực quan, giảng giải, minh hoạ, luyện tập- thực hành, gợi mở- vấn đáp vẫn là những phương pháp mang lại hiệu quả cao nếu biết sử dụng đúng lúc đúng chỗ. Sở dĩ vậy vì kiến thức môn Toán vốn là những tri thức hết sức trừu tượng, khó hiểu đối với học sinh. Tư duy của học sinh Tiểu học đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển, các em chỉ có thể nhận thức được những gì cụ thể, gần gũi,lúc này dạy học nhất thiết phải mang tính trực quan sinh động đồng thời phải kết hợp nhiều phương pháp khác vì:

    * Phương pháp vấn đáp:

    Vấn đáp tài hiện: Giáo viên đặt câu hỏi, học sinh nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ , không cần suy luận. Đây là biện pháp được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa kiến thức đã học và kiến thức sắp học hoặc khi cần củng cố kiến thức vừa mới học.

    * Giải thích- minh hoạ:

    Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề bài nào đó. Giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèn theo những ví dụ minh hoạ để học sinh dễ hiểu dễ nhớ. Phương pháp này sẽ hiệu quả hơn khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe nhìn.

    *Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề

    Phương pháp này tập duyệt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra giải quyết những vấn đề gặp phải trong bài tập,trong cuộc sống của cá nhân gia đình và công đồng.

    * Phương pháp trực quan

    Cũng như phương pháp khác không thể sử dụng tuỳ tiện mà khi sử dụng càn thoả mãn một số yêu cầu sau:

    Một là: Sử dụng phương pháp trực quan trọng dạy toán ở Tiểu học không thể thiếu phương tiện này (đồ dùng) dạy học, các phương tiện dạy học đồ dùng phải phù hợp với từng giai đoạn nhận thức của trẻ, ở giai đoạn 1, các phương tiện chủ yếu là đồ vật thật hoặc hình ảnh của đồ vật thật gần gũi với cuộc sống của trẻ.

    Ở giai đoạn 2 các phương tiện trực quan thường ở dạng sơ đồ, mô hình có tính chất tượng trưng, trừu tượng và khái quát hoá hơn. Các đồ dùng trực quan với mục đích chủ yếu là tạo chỗ tựa ban đầu cho hoạt động nhận thức của trẻ.

    Vì vậy phương tiện (đồ dùng) cần phải tập trung bộc lộ rõ những dấu hiệu, bản chất của các mối quan hệ Toán học, giúp học sinh dễ thấy, dễ cảm nhận nội dung kiến thức Toán học. Các đồ dùng phù hợp với nội dung yêu cầu của bài học, dễ làm, dễ kiếm phù hợp với điều kiện cụ thể ở địa phương phù hợp với điều kiện kinh tế của giáo viên và phụ huynh học sinh. Tránh dùng phương tiện quá máy móc.

    Đồ dùng cần phải đảm bảo tính thẩm mỹ nmhưng không quá cầu kỳ về hình thức và không quá loè loẹt về màu sắc, gây phân tán sự chú ý của học sinh.

    Hai là: Cần sử dụng đúng lúc, đúng mức độ phương tiện trực quan. Khi cần tạo điểm tựa trực quan để hình thành kiến thức mới thì dùng các phương tiện, khi học sinh đã hình thành được kiến thức phải hạn chế việc dùng các phương tiện quá nhiều, thậm chí phải dùng các phương tiện trực quan phù hợp giúp học sinh tư duy trừu tượng.

    ba là: Các phương tiện trực quan phải tăng dần mực độ trừu tượng, phù hợp vào khả năng nhận thức của học sinh đối với học sinh lớp 3 thì các phương tiện mang tính cụ thể trừu tượng.

    Bốn là: Không đề cao quá và tuyệt đối hoá phương pháp trực quan. phương pháp trực quan có nhiều ưu điểm và có vai trò quan trọng trong dạy toán ở tiểu học. tuy nhiên nếu tuyệt đối hoá phương pháp trực quan dùng quá mức sẽ gây phân tác dụng, làm cho học sinh lệ thuộc vào phương tiện trực quan,tư duy máy móc kém phát triển tư duy trừu tượng. Vì vậy cần phải sử dụng linh hoạt đúng mức phương pháp trực quan nên có cơ sở hợp lý với các phương tiện dạy học khác.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2. NỘI DUNG

    2.1: Những cơ sở lí luận:

        -Mỗi môn học ở tiểu học góp phần vào phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người ViệtNamcùng các môn học khác, môn Toán có vị trí quan trọng vì:

        - Các kiến thức, kỹ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống, chúng rất cần thiết cho mọi người lao động, rất cần thiết để học tập các môn học khác ở Tiểu học và học tập tiếp môn Toán ở trung học.

      - Môn Toán giúp học sinh nhận biết được các mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế giới thực. Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống.

       - Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề, nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, nó đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động: cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nền nếp tác phong khoa học.

        -Để giúp giáo viên Tiểu học hiểu rõ hơn cơ sở của việc lựa chọn và sắp sếp các nội dung về phép nhân, phép chia các số tự nhiên, đồng thời giúp giáo viên biết được định hướng của việc lựa chọn và tận dụng các phương pháp dạy học đối với các nội dung phép nhân, phép chia các số tự nhiên tôi xin trình bày một

    số vấn đề sau:

         - Dạy học các phép tính nhân, chia là một chủ đề quan trọng trong chương trình Toán lớp 3 và bậc Tiểu học.

        +  Đây là một trọng tâm lớn xuyên suốt trong trương trình Toán lớp 2, 3, 4, 5.

        + Đây là những kỹ năng rất cần thiết để học lên các cấp học trên (không chỉ trong môn Toán) và để giải quyết những bài toán do thực tiễn cuộc sống đặt ra.

       + Đây là một mảng rất khó, trìu tượng và rất hấp dẫn, nó ảnh hưởng lớn đến kết quả dạy Toán đại trà và việc bồi dưỡng phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh giỏi bậc Tiểu học.

       + Những kiến thức, kỹ năng về phép nhân là “cầu nối” giữa Toán học trong nhà trường và ứng dụng trong đời sống xã hội.

       + Nhờ được rèn luyện các kỹ năng thực hành phép nhân mà học sinh giải toán nhanh hơn, tìm ra nhiều cách giải khác nhau của bài toán.

       + Việc củng cố cho học sinh về tính chất của phép nhân, mối quan hệ giữa các phép tính giúp học sinh có khả năng tính nhanh rất tốt. Thông thường muốn tính nhanh ta phải thực hiện “trong óc”  những phép biến đổi khác nhau để thực hiện phép tính về một dạng mới cho phép tránh được các tính toán cồng kềnh bằng bút, có thể thực hiện dễ dàng “trong óc”. Có thể nói tính toán (trong đó có tính nhanh) là một môn thể thao về tư duy. Không nên nghĩ rằng trong thời đại tin học ngày nay, các máy tính bỏ túi xuất hiện nhiều với giá rẻ, khi mà các máy tính với tốc độ tính toán với hàng triệu phép tính trong một giây đã trở nên

    một đồ dùng sinh hoạt bình thường trong gia đình...thì việc tính nhanh, tính miệng , tính nhẩm không còn cần thiết nữa. Bởi vì các phương tiện tính toán không thể trợ lực hết cho ta trong mọi công việc hàng ngày. Nếu sử dụng một cách thái quá  các công cụ ấy sẽ làm cho bộ óc trở nên lười biếng và trì trệ.

    2.2:Chương trình dạy phép nhân ,phép chia lớp 3:

    -       Các bảng nhân 6, 7, 8, 9

    -       Bảng nhân tổng hợp: Từ bảng 1- bảng 10

    -       Phép nhân ngoài bảng ( tính viết ).

    + Nhân số có 2 chữ số với số có 1 chữ số.

    + Nhân số có 3 chữ số với số có 1 chữ số.

    + Nhân số có 4 chữ số với số có 1 chữ số.

    + Nhân số có 5 chữ số với số có 1 chữ số.

    -       Nhân nhẩm.

    -       Tính giá trị biểu thức số có chứa đến 2 dấu phép tính.

    -       Tăng một số lên một số lần.

    -       So sánh hai số gấp kém nhau một số lần.

          - Tính chu vi, diện tích của hình vuông, hình chữ nhật.

    - Giải toán hợp.

     

          2.3: Thực trạng :

         Qua thực tế tìm hiểu tình hình dạy học phép nhân, phép chia cho học sinh lớp 3 ở trường Tiểu học Nam Sơn trong những năm trước tôi nắm được những thông tin sau:

         Quan điểm của giáo viên về cấu trúc nội dung chương trình để rèn luyện kĩ năng thực hiện phép nhân, chia các số tự nhiên cho học sinh là rất phù hợp. Các bài học về phép nhân, phép chia được sắp xếp liền mạch, bài nọ là cơ sở cho bài kia, phù hợp cho cả giáo viên và học sinh trong quá trình luyện tập.

    Nhiều giáo viên cho rằng:

         Nội dung rèn luyện kỹ năng thực hiện tính nhẩm phép nhân, chia trong bảng

    là rất quan trọng vì nó không chỉ giúp củng cố kiến thức mới mà còn rất thuận lợi cho quá trình dạy nhân, chia ngoài bảng. Thiếu kỹ năng nhân nhẩm tốt thì học sinh sẽ rất khó khăn trong việc học phép chia đặc biệt là chia ngoài bảng (chia viết). Chính vì vậy họ cho rằng: nhiệm vụ cơ bản, trọng tâm của việc dạy phép nhân, chia ở lớp 3 là giúp học sinh có kỹ năng thực hiện tốt nhân, chia trong bảng. Phép nhân, phép chia là dạng phép tính mới, khó đối với học sinh cho nên phải coi trọng công tác hình thành khái niệm phép tính, cách thực hiện phép tính.

           - Hệ thống bài tập để rèn luyện kỹ năng thực hiện phép nhân, phép chia như vậy là cần thiết. Tuy nhiên, các dạng bài tập còn chưa phong phú về nội dung cũng như hình thức. Vì vậy một số giáo viên cho rằng nên cho thêm dạng bài

    tập tính nhanh.

        Tất cả những giáo viên được hỏi đều trao đổi với tôi đầy đủ về những lý do,

    thắc mắc cũng như tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng thực hiện phép nhân, phép chia.

          Trên cơ sở những nhận thức của giáo viên như trên, tìm hiểu về phương pháp dạy học để rèn luyện kỹ năng thực hiện phép nhân, phép chia cho học sinh, tôi thấy một số ưu nhược điểm sau:

    *Ưu điểm:

             Giáo viên.

        Các giáo viên đều nhận thấy được tầm quan trọng của việc dạy học nội dung phép nhân, phép chia các số tự nhiên; nắm được chương trình, định hướng chung về phương pháp dạy học các nội dung này. Vì vậy:

        -  Giáo viên đã sử dụng phương pháp trực quan (nhất là trong giai đoạn đầu), giảng giải – minh hoạ, gợi mở – vấn đáp khi hình thành khái niệm phép tính; khi thành lập các bảng  tính; hướng dẫn học sinh làm bài tập để định

    hướng cho học sinh làm bài.

          - Giáo viên thường xuyên sử dụng phương pháp Thực hành luyện tập trong quá trình rèn luyện kỹ năng thực hiện phép nhân, phép chia các số tự nhiên cho học sinh. Điều này rất thuận lợi cho cả giáo viên và học sinh: giáo viên không phải giảng nhiều, còn học sinh có điều kiện tự rèn luyện kỹ năng cho mình.

        -  Giáo viên bám sát và theo dõi từng bước thực hiện tính của học sinh, có biện pháp sửa sai kịp thời.

          - Một số giáo viên có những điều chỉnh, phân tích rất kỹ, mở ra các hướng mới đối với bài tập rèn luyện kỹ năng tính đưa ra trong sách giáo khoa (chẳng hạn dạy qua các trò chơi). Trong quá trình giảng dạy giáo viên biết lựa chọn bài tập hợp lý tuỳ theo đối tượng học sinh.

         Học sinh:

           - Do các bài học và bài tập về phép nhân, phép chia các số tự nhiên ở lớp 3 được trình bày một cách khoa học, chính xác; cấu trúc các bài tương đối giống

    nhau nên nếu nghỉ học, nhờ vào việc đọc bài và làm bài tập, học sinh có thể tự rèn luyện kỹ năng tính cho mình.

         - Hết lớp 3 học sinh đã có những kiến thức, kỹ năng cơ bản nhất về phép nhân, phép chia; tự mình có thể đặt tính và tính nhân số có đến 5 chữ số với số có 1 chữ số, chia số có đến 5 chữ số cho số có 1 chữ số.

         - Học sinh biết vận dụng kỹ năng nhân, chia vào làm toán: tìm thành phần

    chưa biết, tìm giá trị biểu thức, giải toán có lời văn…

          - Học sinh có kỹ năng tính nhanh, tính nhẩm các số tròn chục với số có một

    chữ số.

       *Nhược điểm:

         - Bên cạnh những ưu điểm kể trên, khi dạy học để rèn luyện kỹ năng nhân, chia

    cho học sinh lớp 3, về phía giáo viên còn một số tồn tại như sau:

     

          - Một số giáo viên không nắm được bản chất Toán học của các nội dung về

    phép nhân, phép chia các số tự nhiên nên còn máy móc trong giảng dạy các nội dung này. Giáo viên chưa chú ý phân tích và khai thác triệt để mục tiêu mỗi bài tập rèn luyện kỹ năng tính cho học sinh.

        - Việc dạy học theo định hướng đổi mới chưa được nhiều giáo viên chú trọng:

         - Trong quá trình hình thành các phép toán nhân, chia ngay sau khi giảng giải và hỏi - đáp, giáo viên thường rút ra công thức phép toán nhưng ít chú ý đến việc cho học sinh nhắc lại hoặc tự rút ra kiến thức mới:

     2.3.1: Biện pháp dạy phép nhân,phép chia số tự nhiên lớp 3:

          Từ tìm hiểu nôi dung, phương  pháp dạy học và những ưu nhược điểm trên tôi rút ra một số biện pháp dạy học cụ thể khi dạy phép nhân, phép chia các

    số tự nhiên cho học sinh lớp 3 như sau:

            Để giúp các em nắm vững kiến thức về phép nhân, phép chiavàcó được kỹ năng, kỹ xảo, cách duy nhất là sau mỗi bài học , chúng ta phải cho học sinh

    thức hành luyện tập thương xuyên và liên tục.

         Trong dạy học tiểu học quan điểm “thống trị” là quan điểm tâm lý học, nhưng trong dạy học toán cần thấy vai trò chủ đạo của quan điểm logic và toán học, coi logic học hình thức là cơ  sở quan trọng của nó. Thực tế, quan tâm  đến  đặc  điểm lứa tuổi chính là tăng cường sức mạnh của logic trong quá trình nhận thức ở học sinh tiểu học.

        Không thể dạy học toán mà không nắm vững đặc thù của toán học nói chung, không nắm vững những kiến thức toán học cơ bản, cần thiết liên quan đến các kiến thức cần dạy.

        Tuy nhiên đổi mới phương  pháp dạy học Toán đòi hỏi giáo viên cần kế thừa, phát triển các phương pháp dạy học truyền thống đồng thời mạnh dạn vận dụng các xu hướng dạy học hiện đại. Sau đây tôi được xin giới thiệu một số biện pháp tôi đã và đang vân dụng vào dạy học ở lớp tôi đang chủ nhiệm.

       *Biện pháp để học bài mới tốt:

           Trước khi học phép tính mới (phép nhân, phép chia) học sinh đều có giai đoạn chuẩn bị. Đây là cơ sở cho việc hình thành kiến thức mới, cầu nối giữa

    kiến thức đã học và kiến thức sẽ học. Vì vậy, khi dạy học các bài học trong giai đoạn này, giáo viên cần chuẩn bị tốt kiến thức cho học sinh để làm cơ sở vững chắc cho các em học những kiến thức mới tiếp theo. Cụ thể là:

           - Học sinh được học bài “Tổng của nhiều số” trước khi học bài “Phép nhân”. Ở đây học sinh được tính tổng các số hạng bằng nhau. Giáo viên phải lưu ý để nhận ra các tổng này đều có các số hạng bằng nhau để giúp học sinh học bài phép nhân, tính kết quả của các phép nhân trong các bảng nhân (nhất là

    các bảng nhân đầu tiên) .

          - Học sinh được học bài “Phép nhân” và các bài về Bảng nhân trước khi học bài “Phép chia” và các bài về Bảng chia. Giáo viên lưu ý học sinh phải thuộc bảng nhân để làm cơ sở học các bảng chia, vì các bảng chia đều được xây

    dựng từ các bảng nhân tương ứng .

           - Việc nhân chia trong bảng thành thạo cũng là cơ sở để học sinh học tốt nhân, chia ngoài bảng.

       *Biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong lập bảng nhân, bảng chia:

           Kĩ thuật chung của nhân, chia trong bảng là: Học sinh thao tác trên các tấm bìa có các chấm tròn. Nên việc sử dụng các bộ đồ dùng dạy – học số và các phép tính này có ý nghĩa vô cùng to lớn trong hình thành các kiến thức toán học rất trừu tượng và khái quát như khái niệm số tự nhiên, so sánh sắp thứ tự, phép cộng, phép trừ, phép nhân, phép chia và mối quan hệ giữa các phép tính. Vì vậy, sử dụng đồ dùng trực quan ở đây là rất quan trọng. Trong bộ đồ dùng gồm có:

      +Bộ các số 1, 10, 100, 1000, 10000:

     + 10 tấm nhựa trắng ghi số 1000

     + 10 tấm nhựa trắng ghi số 10000

     + 10 tấm nhựa trắng hình e líp ghi số 1

     + 10 tấm nhựa trắng hình e líp ghi số 10

     + 10 tấm nhựa trắng hình e líp ghi số 100

     – Bộ chấm tròn hoặc bảng nhân, bảng chia: 

    +  10 tấm nhựa in 6 chấm tròn

    + 10 tấm nhựa in 7 chấm tròn

     + 10 tấm nhựa in 8 chấm tròn

     + 10 tấm nhựa in 9 chấm tròn

     – 15 bảng ô vuông (mỗi bảng có 100 ô vuông)

     – 10 thẻ ô vuông (mỗi thẻ có 10 ô vuông)

    –       10 ô vuông nhỏ.

         Tuy nhiên mức độ trực quan không giống nhau ở mỗi giai đoạn khác nhau  như:

          Ở lớp 3 (học kỳ I): học sinh tiếp tục học các bảng nhân, bảng chia 6, 7, 8, 9.

    Lúc này các em đã có kinh nghiệm sử dụng đồ dùng học tập (các miếng bìa với số chấm tròn như nhau), đã quen và thành thạo với cách xây dựng phép nhân từ những miếng bìa đó. Hơn nữa, lên lớp 3 trình độ nhận thức của học sinh phát triển hơn trước (khi học lớp 2) nên khi hướng dẫn học sinh lập các bảng nhân hoặc bảng chia, giáo viên vẫn yêu cầu học sinh sử dụng các đồ dùng học tập nhưng ở một mức độ nhất định, phải tăng dần mức độ khái quát để kích

    thích trí tưởng tượng, phát triển tư duy cho học sinh. Chẳng hạn:

          Giáo viên không cùng học sinh lập các phép tính như ở lớp 2 mà chỉ nêu lệnh để học sinh thao tác trên tấm bìa với các chấm tròn để lập 3, 4 phép tính trong bảng, các phép tính còn lại học sinh phải tự lập dựa vào phép đếm thêm hoặc dựa vào các bảng nhân đã học.

         Ví dụ: 

         * Khi hướng dẫn học sinh tự lập Bảng nhân 6, giáo viên yêu cầu học sinh sử dụng các tấm bìa, mỗi tấm bìa có 6 chấm tròn để lập các phép tính:

                                                          6 x 1 = 6

                                                          6 x 2 = 12

                                                        6 x 3 = 18

          Sau đó cho học sinh nhận xét để từ 6 x 2 = 12 suy ra được 6 x 3 = 18. Cụ thể là: Với 3 tấm bìa.

         Học sinh nêu : “6 được lấy 3 lần, ta có 6 x 3”

    Mặt khác cũng từ 3 tấm bìa này ta thấy 6 x 3 chính là 6 x 2 + 6 .

    Vậy 6 x 3 = 6 x 2 + 6 = 18  .

         Bằng cách như vậy, học sinh có thể không dùng tấm bìa mà vẫn tự tìm được kết quả của phép tính:

                            6 x 4 = 6 x 3 + 6 = 24

                            6 x 5 = 6 x 4 + 6 … 

    Hoặc dựa trên bảng nhân đã học

                             6 x 4 = 4 x 6 = 24.

                            6 x 5 = 5 x 6 … .

            * Khi dạy bài phép nhân để hình thành khái niệm, nếu không sử  dụng 2 tấm nhựa in 7 chấm tròn thì giáo viên không thể giải thích cho học sinh mối quan hệ giữa phép cộng 7 + 7  với phép nhân 7 × 2.

           Như vậy, giáo viên cần lưu ý sử dụng đồ dùng trực quan hợp lý, đúng mức để không chỉ giúp học sinh nắm được kiến thức mà còn phát triển tư duy cho học sinh.

        * Biện pháp hướng dẫn nhân, chia ngoài bảng:

          Biện pháp chủ yếu được sử dụng là làm mẫu trên các ví dụ cụ thể. Từ đó

    Giáo viên  hướng dẫn học sinh cách đặt tính và tính. Đối với những trường hợp cần lưu ý như: phép chia có chữ số 0 ở thương, ước lượng thương chưa hết, nhớ khi nhân chưa đúng … giáo viên thường đưa ra các bài tập khác phù hợp với nhận thức của các đối tượng học sinh, để lưu ý học sinh cách làm đúng.

            Do đó, khi sử dụng biện pháp dạy học phép nhân, phép chia số tự nhiên ở lớp 3 phải quan tâm đến đặc điểm nhận thức của học sinh (tư duy cụ thể phát triển hơn tư duy trừu tượng, tri giác bằng nhiều giác quan…) từ đó quyết định

    sử dụng các phương pháp dạy học kích thích tư duy trừu tượng, khả năng so sánh, khái quát hoá, tổng hợp hoá … cho học sinh. Trong những bài về nhân, chia ngoài bảng, sau khi đã cho học sinh thấy:

    Ví dụ:  

                              

    x

     

    1428                                           2407          4

                                4                                             00           601

                           4282                                             07

                                                                                  3

          Nhiều giáo viên không cho học sinh tự củng cố lại: cách đặt tính như thế nào? thực hiện phép nhân, chia theo thứ tự ra sao?... Vì thế học sinh rất dễ mắc

    sai lầm khi thực hiện tính, đặc biệt là đối với những phép chia có số 0 ở thương.

          Chỉ qua một số ví dụ trong bài mới thì học sinh rất khó nắm bắt được khái niệm phép toán, cách đặt phép toán, cách đặt tính, cách tính… nên học sinh thường làm sai. Do đó, giáo viên cần thường xuyên củng cố lại kiến thức trong suốt quá trình học sinh thực hành luyện tập.

       - Nhiều giáo viên cho học sinh luyện tập với không khí buồn tẻ, do đó có nhiều dạng bài tập lặp lại mà giáo viên không đổi mới các hình thức chữa bài chủ yếu chữa bài một cách đơn điệu: học sinh đứng đọc bài làm hoặc lên bảng làm bài và lớp chữa. Do đó không kích thích được hứng thú học tập của học sinh. Vì vậy giáo viên phải thường xuyên thay đổi hình thức luyện tập.

       - Trong  thực hành luyện tập để rèn luyện kỹ năng tính cho học sinh, yêu cầu học sinh làm nhiều bài tập để giáo viên biết đến những khó khăn của học sinh để giảng giải cho các em hiểu.  

    2.3.2 :Những sai lầm và biện pháp khắc phục khắc phục khi dạy học phép nhân, phép chia các số tự nhiên.

            Khi thực hiện các phép tính nhân, chia ở lớp 3 học sinh thường gặp một số khó khăn, sai lầm sau:

    *Dạy học phép nhân .

      - Khi nhân số có nhiều chữ số với số có một chữ số có nhớ 2, 3 … liên tiếp,

    học sinh thường chỉ nhớ lần đầu tiên mà quên không nhớ các lần tiếp theo.

    x

     

    Ví dụ:                                                    1718

                                                                    5

                                                              5590

     

     

     

       - Trong phép nhân có nhớ nhiều hơn 1 (nhớ 2, nhớ 3 …) học sinh thường

    chỉ nhớ 1.

    Ví dụ:

    x

     

                                               1918

                                                       4

                                                 5672

      Biện pháp khắc phục: Đối với 2 lỗi trên, giáo viên cần khắc phục cho học sinh bằng cách: yêu cầu các em nhẩm thầm trong khi tính (vừa tính, vừa nhẩm) như phép tính mẫu trong sách giáo khoa và viết số cần nhớ ra lề phép tính.

            - Lúc đầu khi mới học nhân số có nhiều chữ số với số có một chữ số, học sinh còn hay sai trong cách ghi kết quả.

    Ví dụ:

    x

     

                      

    x

     

                                         26

                                                           3

                                                       618

     

      

     Biện pháp khắc phục:  Ở đây, ta cần giải thích cho học sinh rằng: Nếu làm như vậy thì tích có tới 62 chục, nhưng thực ra chỉ có 7 chục mà thôi. Vì:

         - Ở lượt nhân thứ nhất: 3 nhân 6 đơn vị được 18 đơn vị, tức là 1 chục và 8 đơn vị, viết 8 ở cột đơn vị, còn 1 chục nhớ lại (- ghi bên lề phép tính) để thêm

    vào kết quả lượt nhân thứ hai – nhân hàng chục.

          - Ở lượt nhân thứ hai: 3 nhân 2 chục được 6 chục, thêm một chục đã nhớ là

    7 chục, viết 7 ở cột chục.

          Giáo viên cũng có thể một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của phép tính

     

    bằng cách: Phân tích từ số 26 = 2 chục + 6 đơn vị và hướng dẫn học sinh nhân

    bình thường theo hàng ngang rồi cộng các kết quả lại.

    *Dạy học phép chia.

     

             Dạy bảng chia  6 :

        Nhiều học sinh còn lúng túng trong việc trong việc từ phép nhân suy ra kết quả phép chia, thì giáo viên nên làm mẫu một trường hợp, chẳng hạn 12 : 6 = ? có thể làm như  sau:

         Giáo viên chỉ vào 2 x 6 = 12 nêu “Trong phép nhân này 12 là tích , 2 và 6 là thừa số. Ta đã biết là: Khi lấy tích chia cho thừa số này thì được thừa số kia, nên

     

    2 x 6 = 12 ta suy ra 12 : 6 = 2. Do đó từ một phép nhân với 6 ta suy ra được kết quả của một phép chia 6”.  Sau đó để học sinh tự làm 9 trường hợp còn lại.

          Lớp có nhiều học sinh yếu thì sau khi hướng dẫn mẫu như trên, giáo viên có thể đàm thoại để hướng dẫn nhanh một trường hợp nữa. Sau đó để học sinh tự làm 8 trường hợp còn lại.

           * Đối với chia ngoài bảng học sinh thường ước lượng thương sai trong phép

    chia có dư nên dẫn đến tìm được số dư lớn hơn số chia và lại thực hiện chia số

    dư đó cho số chia. Cuối cùng, tìm được thương lớn hơn số chia.

    Ví dụ: Học sinh thực hiện tính như sau:

    84      4             b       Hay      84    4                      Hoặc      42      2

    8                                             21                                          4       24 

      4                                                                                            2

      4                                                                                            2               

       0                                                                                           0                                                                   

           Nguyên nhân của lỗi sai này là quá trình giảng bài, giáo viên hướng dẫn học sinh theo các bước khi thực hiện phép chia; chia – nhân – trừ. Những khi thực

    hành, học sinh còn nhẫm lẫn không biết lúc nào chia, nhân, trừ.

         Biện pháp khắc phục:

          Trong quá dạy, giáo viên cần hướng dẫn kỹ, ta phải thực hiện từ trái sang

    phải (từ hàng cao nhất của số bị chia đến hàng thấp hơn). Nghĩa là ta lần lượt từng hàng một, xong hang này rồi sang hàng tiếp theo.

          Khi thực hiện chia, chữ số đầu tiên tính từ trái sang ta chia cho số chia )ta thực hiện khi chia), ta được thương ghi ngay kết quả. Rồi lấy thương vừa tìm được nhân với số chia (ta thực hiện nhân) ta ghi kết quả của phép nhân dưới số bị chia vừa thực hiện. Tiếp tục, ta lấy số bị chia trừ cho kết quả vừa nhân (ta

    thực hiện phép trừ). Như vậy ta thực hiện xong ở lần chia thứ nhất. Tiếp tục hạ xuống thực hiện lần chia thứ hai, tương tự như lần chia thứ nhất…cho đến hàng cuối cùng. Đối với số học sinh ước lượng thương còn chậm hoặc không biết

    cách chia. Đặc biệt là khi dạy phép chia giáo viên có thể hướng dẫn học sinh bằng cách đếm thêmTrường hợp số bị chia là 20 thì học sinh có thể đếm 24, tức là được bốn lần, nhưng bớt đi một lần, vì số bị chia chỉ là 20.

     

    Ví dụ:

                                               65       2

                                               6        311

                                               05

                                                 2

                                                 3

                                                 2

                                                 1

     

     

     

    -Nguyên nhân của lỗi sai này là:

        - Do học sinh chưa nắm được quy tắc “số dư bao giờ cũng nhỏ hơn số chia

      - Học sinh không thuộc bảng nhân, bảng chia, kỹ năng trừ nhẩm để tìm số dư

    còn chưa tốt.

    Biện pháp khắc phục:

        - Khi dạy học sinh cách ước lượng thương trong phép chia, cần lưu ý cho học sinh quy tắc trong phép chia có dư: “số dư bao giờ cũng nhỏ hơn số chia

         - Khi dạy về nhân, chia trong bảng, giáo viên cần yêu cầu học sinh phải học thật thuộc các bảng nhân, bảng chia trước khi dạy chia viết.

        - Dạy cho học sinh làm tính chia phải được tiến hành từ dễ đến khó, theo từng

    bước một.

        b) Một sai lầm nữa thường thấy ở học sinh khi học chia viết là: Các em

     

    thường quên chữ số “0” trong phép chia có chữ số “0” ở thương.

      Nguyên nhân và biện pháp khắc phục:

         Do học sinh không nắm được quy tắc thực hiện chia viết “có bao nhiêu lần

    chia thì có bấy nhiêu chữ số được viết ở thương”. Giáo viên cũng cần lưu ý học

    sinh: Chỉ duy nhất trong lần chia đầu tiên là được lấy nhiều hơn một chữ số ở số bị chia để chia, còn các lần chia tiếp theo lấy từng chữ số để chia và khi lấy một

    chữ số để chia thì phải viết được một chữ số ở thương.

         Hướng dẫn học sinh cách nhân khi thực hiện phép chia có dư trong mỗi lượt

    chia như sau:

    Ví dụ:  51 : 6 = ?

    Cách 1:

       Đếm ngược từ 51 cho đến khi gặp một tích (hoặc số bị chia) trong bảng nhân 6 (chia 6) :

        51; 50; 49; 48.

    51 : 6 = 8

    Vậy 51 : 6 = 8 (dư 3)

    Cách 2:

          Tìm số lớn nhất (không vượt quá 51) trong các tích (số bị chia) của bảng

    nhân (chia 6) ta được:

                 48; 48 : 6 = 8. Vậy 48 : 6 = 8 (dư 3)

        Với cách với những biện pháp thực hiện như trên, bước đầu học sinh đã có hiệu quả, các em đã  nắm được cách làm bài mà không còn nhẫm lẫn.

          Căn cứ vào kết quả thu và chấm bài của học sinh cho thấy. Đa số học sinh đều tiếp thu tốt, nắm được kỹ năng làm tính và vận dụng nhanh, thực hiện phép tính tốt. So với kết quả đầu năm thì số học sinh làm tính chậm giảm đi rất nhiều, khi thực hiện toán có phép nhân, phép chia học sinh không còn lúng túng mà tự tin trong làm bài. Tính nhân, chia đối với các em học sinh trở thành kĩ năng, kĩ

    sảo.  Từ những học sinh sợ học môn toán trở thành yêu thích nôn toán.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     Đây là một giáo án thực nghiệm

     

    TOÁN : (Tiết 18)

    Bảng nhân 6

    1. Mục tiêu:

    * Giúp học sinh:

    - Thành lập bảng nhân 6 (6 nhân với 1, 2, 3...10)

    - Học sinh học thuộc lòng bảng nhân 6

    - Áp dụng bảng nhân để giải toán có lời văn và toán tính giá trị của biểu thức.

    - Thực hành đếm thêm 6

    2. Đồ dùng dạy học:

    - 10 tấm bìa, mỗi tấm có gắn 6 hình tròn học

    - Bảng phụ viết sẵn bảng nhân 6 ( không ghi kết quả của bảng nhân)

    3. Các hoạt động dạy học

     

     

    HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY

     

    HOẠT ĐỘNG CỦA TRÒ

     

    3.1. Kiểm tra bài cũ :

    Giáo viên đưa ra ví dụ

    Yêu cầu học sinh viết phép nhân tương ứng với  mỗi tổng sau

    VD1: 2+2+2+2+2+2

    VD2: 5+5+5+5+5+5

    - Yêu cầu 2hs làm bảng nêu tên gọi thành phần và kết quả của các phép nhân vừa lập được.

    - Nhận xét cho điểm

    3.2. Bài mới :

    3.2.1. Giới thiệu bai:

    Trong giờ học này các con học bảng nhân 6.

    3.2.2. Hướng dẫn lập bảng nhân 6:

    - GV gắn 1 tấm bìa có 6 chấm tròn lên bảng, giáo viên hỏi có mấy hình tròn.

    - 6 hình tròn được lấy mấy lần ?

    - 6 được lấy mấy lần ?

    6 được lấy 1 lần ta lập phép nhân 6 x 1 = 6

    - Hướng dẫn HS tự lấy 2 tấm bìa có 6 hình tròn

    - Gọi 1 hs lên bảng gắn

    - GV quan sát học sinh làm

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    - Ta có 2 tấm bìa mỗi tấm bìa có 6 hình tròn được lấy  mấy lần ?

    - Vậy 6 được lấy mấy lần ?

    - 6 nhân 2 bằng mấy ?

     

    - Từ đó học sinh suy ra được 6 x 3 =18. Cụ thể là phải lấy 3 tấm bìa

    - Mặt khác các em cũng biết từ 3 tấm bìa này

    Ta thấy 6 x 3 chính là:

               6 x 2 + 6

    Bằng cách như vậy, HS có thể không dùng tấm bìa mà vẫn tự tìm được kết quả phép tính .

    6 x 4 = 6 x 3 + 6 = 24

    6 x 5 = 6 x 4 + 6 = 30

    - HS thấy ngay 6 x 4 có kết quả bằng chính 6 x 3 cộng thêm 6

    - Cho học sinh tiếp tục tự tìm ra kết quả của bảng nhân 6

    => GV: Chốt lại: Đây là bảng nhân 6 có phép tính nhân trong bảng có 1 thừ số đều là 6, còn thừa số kia lần lượt là từ 1, 2, 3...10

     

    - Tổ chức HS thi đọc học thuộc lòng

    3.3.3 Luyện tập

    Bài 1:

    - Bài tập 1 yêu cầu chúng ta làm gì ?

    - Yêu cầu học sinh đọc miệng

    - Củng cố lại bảng nhân 6

    Bài 2:

    - Gọi 1 HS đọc đề toán

    Giáo viên hỏi có tất cả mấy thùng?

    - Mỗi thùng có bao nhiêu lít dầu?

    - Vậy để biết 5 thùng có bao nhiêu lít dầu ta làm thế nào ?

    - Yêu cầu hs làm bài vào vở

    - Củng cố


    Nhắn tin cho tác giả
    Dương Thị Vân @ 10:31 27/02/2014
    Số lượt xem: 2939
    Số lượt thích: 1 người (Đỗ Thanh Lâm)
     
    Gửi ý kiến